
Trích Lời Nói Đầu
Mỗi thời đại, thậm chí mỗi thế hệ thơ cần có phương tiên khác nhau để thể hiện nội dung hoàn cảnh cuộc sống. Thơ vần điệu thích hợp với truyền thống và Tiền chiến, chuyên chở tình tự con người trong một xã hội nông nghiệp là chính, thế nên chúng ta đã có những bài thơ và tác phẩm hay. Sau thời kỳ phân chia, rồi chiến tranh, thập niên 1960, lòng người phân tán, không còn an bình như cũ, thơ cần có cách nào đó nói lên nỗi bất an, phản kháng, và nổi loạn, và vì thế thơ tự do ra đời, kéo dài đến sau thời hậu chiến tranh Việt nam, thập niên 1980, và đã xuất hiện một số nhà thơ xuất sắc. Nói như thế để chúng ta thấy rằng, nếu có một phương tiện thích hợp để chuyên chở nội dung khác nhau ở những thời điểm khác nhau, sẽ có được những tác phẩm giá trị và những nhà thơ tài năng.
Thập niên 1990, một thế hệ ra đời sau thời mở cửa, tiếp nhận nền văn minh điện toán và mạng lưới thông tin toàn cầu internet, chắc chắn tâm tư, ước vọng của họ không giống với những thế hệ trước đó, dù chỉ cách nhau khoảng 10 năm. Họ cần có một phương tiện biểu hiện riêng. Thơ tân hình thức cung cấp cho họ một thể thơ và những yếu tố kỹ thuật cần thiết để phát huy tài năng, chia sẻ tâm tình với những thế hệ khác và với thế hệ của chính họ với nhau. Sử dụng phương tiện và nội dung như thế nào lại là vấn đề của họ, nhưng thường thì thay đổi về hình thức luôn luôn làm thay đổi nội dung và ngược lại, nội dung mới đòi hỏi một hình thức mới.
Về chủ đề tuyển tập, nhà thơ Gỷang Anh Iên giải thích: “Cốt lõi của tân hình thức là hiệu ứng cánh bướm với sự vận động phản hồi và lập lại nhưng không cùng biên độ dao động. Kỹ thuật lập lại tạo nên loại nhạc điệu xoay vòng, không bài thơ nào giống bài thơ nào, dù cùng một tác giả. Bên cạnh đó, hình ảnh con bướm 6 cánh đang đập với 5 gương mặt trẻ, còn gương mặt thứ 6 với dòng chữ Comming Soon là hi vọng và chờ đợi những tiếp nối khác trong tương lai...” Như vậy quan tâm của họ là những chuyển đổi mang tính toàn bộ, vì nếu không thì làm sao có thể phản ánh thực tại đang biến hiện không ngừng nghỉ, trong thời đại mà không ai có thể đoán trước bất cứ điều gì.
Trở lại đời sống thường ngày, những chiếc điện thoại cầm tay xinh xắn, đủ mọi chức năng đang trở thành phương tiện thời trang của giới trẻ. Người ta không thể ngờ rằng, chỉ cách đó vài năm, những hộp điện thọai công cộng (mà một nhà thơ gọi là “hộp phát tiếng người’) vẫn còn là một tiện nghi thông dụng. Sự thay đổi phương tiện truyền thông từ hệ số analog sang digital, tạo nên tiến bộ vượt bực mang tính toàn cầu, vì ngay tại các nước phương Tây, từ năm 2000, những hộp điện thọai công công, đặt ở nơi đông người qua lại, đã lặng lẽ biến mất.
“Hộp phát tiếng người” cũng làm chúng ta liên tưởng tới kiến trúc hiện đại với những tòa nhà chung cư hình hộp, bị phá hủy vào những cuối thập niên 1960, đầu 1970 ở Mỹ vì lý do, những thiết kế đó đã cũ kỹ và đơn điệu, không có ý nghĩa gì ngoài những đường nét vuông vức, hình học, xa lạ với đời sống của cư dân, mà những nhà phê bình hậu hiện đại sau đó gọi là “bộ máy để ở”. Sự xa cách với đời sống con người từ kiến trúc, hội họa đến thơ của thời hiện đại đã đưa tới bế tắc, đòi hỏi thay đổi. Ngay cả khoa học cũng phải bước ra khỏi thế giới thuần lý để giải thích đời sống con người, lý thuyết hỗn mang vào thập niên 1960 chẳng hạn.
Điều này cho thấy sự liên hệ mật thiết giữa con người, vật thể và những tiện nghi của nền văn minh mới. Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm thay đổi tâm tư con người. Không ai còn có khả năng phán xét, áp đặt những quan điểm khác nhau lên những thành phần khác nhau trong xã hội. Sự hài hòa, đa sắc thái được tôn trọng. Và thơ đang là chất xúc tác làm cân bằng đời sống. Tại các nước tiên tiến như Mỹ, thơ đang ở thời kỳ sung mãn, được cổ võ và sáng tác khắp nơi. Nhưng với chiều hướng, thơ hay cũng như bông hoa đẹp, phải thuộc về và nhận biết từ mọi con người chứ không phải của riêng một nhóm chọn lọc nào.
Chúng tôi giới thiệu 5 nhà thơ trẻ nhất đối với một nền thơ và dòng thơ mới, như những người đứng ra chuyển giao phương tiện thơ cho thế hệ họ. Họ đến với thơ tân hình thức như những con người bình thường, phát biểu một quan niệm, thơ thể hiện đời sống bình thường vì sự bình thường, chứ không phải khác thường, mới mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người. Họ chú tâm hồi phục lại nghệ thuật thơ, hay nói khác, thay thế nghệ thuật cũ bằng nghệ thuật mới, đẩy thơ, cả nội dung và hình thức đi về phía trước. Sự thành công tùy thuộc vào sự đầu tư, tài năng cùng sự tham dự của những nhà thơ trẻ khác, qua trung gian của họ, để có được tiếng nói mạnh mẽ chung của toàn thế hệ.
Họ xuất hiện nơi đây, không phải với những tuyên ngôn nảy lửa, nhiều tính tu từ mà chỉ bằng những sáng tác dung dị, mới mẻ và sâu sắc, đóng góp tính đa dạng cho thơ. Họ ý thức một cách rõ rệt, cần học hỏi kinh nghiệm sáng tác nơi vần điệu và tự do, thì thơ tân hình thức mới có sức mạnh trưởng thành, đồng hành với các dòng thơ khác. Vì vậy, họ ước mong được chia sẻ, giúp đỡ từ những thế hệ đi trước, bởi thơ phải như một dòng sông với nhiều dòng chảy, cộng hưởng lẫn nhau mới có khả năng đưa thơ Việt ra khỏi sự bất động để ngang tầm với những nền thơ lớn khác.
Giới thiệu 5 nhà thơ trong bước khởi đầu của nhà xuất bản là một hân hạnh. Chúng tôi tin rằng, với tinh thần rộng mở, yêu thơ, bạn đọc và các bậc trưởng thượng sẽ dành cho những nhà thơ trẻ nhất của nền thơ chúng ta những cảm tình đặc biệt, cụ thể bằng cách đánh giá khách quan, phê bình và giới thi ệu rộng rãi đến nhiều người đọc, để họ đủ tự tin, điều chỉnh lại bước đường thơ của họ. Đó chính là sợi dây tinh tế, cần thiết xuyên suốt nhiều thế hệ với nhau, trong chiều dài thiên niên kỷ của thơ. Sau cùng, xin quí vị nhận nơi đây sự biết ơn chân thành của chúng tôi, nhà xuất bản và những nhà thơ trong tuyển tập này.
Inrasara
Tân hình thức, một bước đi mới
Ghi nhanh, nhân đọc Bướm sáu cánh, tập thơ 5 tác giả: Biển Bắc, Bỉm, Thiền Đăng, Nguyễn Tất Độ, Gyảng Anh Iên, do NXB Tân hình thức xuất bản, Sài Gòn, 2008.
Một trào lưu văn nghệ nào bất kì luôn có kẻ mở đường, người đi theo con đường đó. Có người đi vì vui, rồi bỏ dở chừng. Có kẻ kiên trì đi cuối con đường, dù thành tựu đâu không biết, trong khi mục tiêu cứ hun hút xa. Nhưng cũng có không ít người nhập cuộc và góp phần khai quang, mở rộng con đường.
Tân hình thức không là ngoại lệ.
Từ khi mở mắt chào đời tại Hoa Kì bởi nhà thơ Khế Iêm và được xiển dương qua tạp chí Thơ, sau đó, là Website Tanhinhthuc.org, tân hình thức cũng trải qua mấy gập ghềnh. Hàng loạt tên tuổi nhà thơ đã/ chưa thành danh từ trong đến ngoài nước nhập cuộc. Trần Tiến Dũng, Nguyễn Đạt, Lưu Hy Lạc, Đỗ Kh, Lê Thánh Thư, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy,…
Và như định mệnh ngoại biên tự dành cho mình, hàng loạt thi phẩm tân hình thức ra đời qua hình thức in photocopy: Đoàn Minh Hải với Đại nguyện của đá (2003); Thơ tân hình thức, tập thơ in chung của nhiều tác giả ra đời cùng năm, bên cạnh các tập thơ riêng cũng có mặt không ít bài tân hình thức. Song hành với sáng tác là các tiểu luận, trong đó Tân hình thức, tứ khúc và những tiểu luận khác của Khế Iêm do Văn mới (Hoa Kì) ấn hành là rất đáng kể. Như thể một tuyên ngôn của phong trào. Ở ngoài nước, thi phẩm song ngữ Anh - Việt: Blank Verse, An Anthology of Vietnamese New Formalism Poetry, USA, 2006, xuất hiện khá bề thế, như muốn khẳng định thế đứng của tân hình thức Việt. Cuối cùng, cuối năm 2006, Inrasara cho ra đời tập thơ Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn in. Có thể nói đây là dấu mốc ghi nhận sự có mặt đầy “chính thống” của tân hình thức với tư cách một trào lưu văn chương.
Trong khí quyển thơ ca Việt “có mặt bằng mà chưa có đỉnh cao” hay các dạng thơ theo xu hướng “cổ truyền” chiếm thế áp đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng; hoặc loại thơ tự do cao sang, bí hiểm đang dần chui vào tháp ngà mình mình biết mình mình hay, phong trào tân hình thức xuất hiện đã thổi luồng khí mới. Nó đưa thơ trở lại với đời thực hơn, ngôn ngữ thơ gần gũi với đời thường hơn, nhà thơ hết còn nỗ lực cắt đứt dây nhợ với truyền thống quá khứ để làm ra cái gì thật độc sáng. Khế Iêm tuyên bố: "Thơ tự do, sau một thế kỷ đã cạn nguồn và cùng kiệt (…) Tân hình thức như một thời lãng mạn mới, một trật tự mới hay một nền ca dao mới trong một xã hội bình đẳng và dân chủ, lôi cuốn người đọc, làm phong phú đời sống và ngôn ngữ tự nhiên” (Tạp chí Thơ số 20, tr.70). Tân hình thức "kết hợp với một số yếu tố và kỹ thuật của thơ tự do, phá vỡ những âm hưởng Tiền Chiến, chấm dứt nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ của thơ Việt." (Khế Iêm, Tạp chí Thơ số 18, tr.94).
Lập ngôn và lôi cuốn gần nửa trăm tác giả thử nghiệm, tân hình thức đã tạo nên một phong trào sôi động. Thế nhưng, lặp lại nguy cơ đưa thơ vào sự quẩn quanh, bí bức, nhàm chán; tính truyện đã xổ nhiều bài thơ trở thành lan man và nhảm; ngôn ngữ đời thường khiến không ít người làm thơ lạm dụng ngôn từ dung tục từ đó tầm thường hóa thơ.
Độc giả dị ứng với tân hình thức đã đành, ngay những kẻ nhiệt tình với nó nhất cũng có vẻ nguội lạnh. Phong trào thơ tân hình thức ở trong nước (chủ yếu tại Sài Gòn) sôi nổi vào ba năm đầu (2001-2003), sau đó không khí trầm lắng hẳn đi. Các nhà thơ đang đứng lại, lấy hơi và nhìn lại mình.
Sự nhìn lại mình này kéo dài hơi lâu. Phong trào này chết chăng? Không!
Đã có thế hệ mới, tác giả khác có mặt tiếp lửa. Bướm sáu cánh, tập thơ của năm tác giả do Nhà xuất bản Tân hình thức ấn hành năm 2008 làm cuộc trỗi dậy đó.
Với những “L[nh]ảm” của mình, vẫn là chuyện vụn vặt ngày thường, nhưng Bỉm biết đưa ngôn ngữ thơ dấn vào tâm trạng bề sâu hơn, tứ thơ cư trú ở khoảng bấp bênh hơn dù ở đó không thiếu khuyết chất bỡn cợt.
“Cột điện” của Gyảng Anh Iên khiến ta nhớ đến sự kiện dự án nghệ thuật đường phố “Tôi là cột điện” của Trần Lực và Lê Anh Hoài ở Hà Nội tháng sáu vừa qua. Nhưng chẳng phải bằng thái độ vô phân biệt giữa người và sự vật mà tại đây thi sĩ nhận ra chức năng khác của cột điện – buồn cười. “Nói chung chẳng có gì để nói”: lặp lại, lẩn quẩn, tù túng của một sinh thể người với bao tử đang “thoát dịch vị” trong thành phố tiền hiện đại. “Guitar đêm” như thể một lãng mạn mới; cũng sương khuya, côn trùng, cũng tiếng mẹ thở hay giấc ngủ sâu, nhưng qua tân hình thức, chúng đã mang hơi thở khác. Nữa: “Thành & bại” không phải không “đầy tràn cảm xúc”.
Biển Bắc, Bỉm, Thiền Đăng, Nguyễn Tất Độ, Gyảng Anh Iên, ở nhiều góc độ khác nhau, họ khai thông dòng chảy mới cho tân hình thức Việt.
Sài Gòn, 17.07.2008.
Nguyễn Nguyên An
Bướm Sáu Cánh vén mở tư duy mớ
Cầm trong tay tập thơ Bướm Sáu Cánh của năm nhà thơ trẻ, dày hơn 200 trang, NXB TÂN HÌNH THỨC ấn hành, do nhà thơ Bỉm mến tặng, tôi thật xúc động bởi tình cảm của các văn hữu đã và đang tìm nhau, trao nhau những dòng tâm huyết rung động từ hiệu ứng cánh bướm, trong biên độ giao động tạo nhạc điệu xoay vòng, chờ đợi tiếp nối như sự mặc khải comming soon...
Đọc Bướm Sáu Cánh, tôi cũng giao động nhịp rung cánh bướm, xin chia sẻ với các bạn bước tập tành, khai ngộ của tôi với dòng thơ tân hình thức mới lạ và áo nghĩa này.
Với những dòng thơ tưởng chừng vu vơ của Biển Bắc:
Hoa vẫn nở trong
vườn sáng nay cho
dù xuân năm nay
về hơi muộn vì
mùa đông cứ giằng
co với mùa thu
nên trong vườn sáng
nay hơi lạnh khi
anh hái đóa hoa
xuân để tặng em
năm nay như mọi
năm ấy mà (!)... khác!
Và,
Giọt nước rơi từ khoảng
không trên cao xuống mắt
(kính) em... bỗng nhiên làm
nhòa đi hình ảnh anh
trong ánh nhìn của em
rồi sau đó sau khi
lau khô mắt (kính) em
bỗng nhiên sáng hơn thêm
trong ánh nhìn... khoảng không
Nhưng lại thâm trầm triết lý. Chính: "Giọt nước rơi từ…" thiên thu đậu trong trái tim em, bỗng nhòa đi bởi lăng kính màu nghi ngại, ÁNH NHÌN/KHOẢNG TRỐNG sáng hơn khi em BIẾT, nhận ra mình, nhận ra anh, BIẾT lau khô phân biệt.
28 bài thơ của Biển Bắc còn nhiều bài hay: "Giông bão trong ly nước", 'Tim tím"... Tôi xin dừng ở "Một tấm hình".
...tấm
hình của Ních Út chụp là
tấm hình cứu em ra khỏi
hãi hùng mà có bao giờ
hãi hùng ra khỏi mắt em!?
Ních Út chụp một bé gái trần truồng chạy tránh bom Na-pan. Đúng Ních Út thành danh nhờ tấm hình và cứu em khỏi nghèo túng, nhưng hãi hùng vẫn đọng trong mắt và sự thiếu thốn vẫn ở lại nơi bom nổ.
Nhà thơ Bỉm với 17 bài, tôi dừng lâu hơn ở những bài: "Ngày tận thế", "Bông hoa lăng loàn", "Hộp phát tiếng người", "Cái giường"... Xin trích đoạn cuối trong Ngày tận thế để nói lên đồng cảm của tôi.
"...Quả tim bệnh
hoạn của tôi đang nổ tung những
kho bom nguyên tử, chất độc màu
da cam, nổ tung những bộ óc
thủy tinh, những quả tên lửa mang
đầu đạn hạt nhân. Một bữa tiệc!
Cuồng quay những âm thanh điên loạn
chém giết, trả thù, chinh phạt, những
dối trá cuộn tròn và im bặt.
Đạo đức đã lộ rõ bộ mặt
giả tạo. Cả thế giới đang tan
vỡ hòa cùng nhịp đập không nguôi
của oán hận. Ngày tận thế dâng
cao. Tận thế...
Vâng, Bỉm ơi! Khi đạo đức loài người đến thời mạt lộ, vậy mà vẫn có người đeo mặt nạ đạo đức sau cánh tay đồ tể!
Lần đầu tôi đọc thơ Thiền Đăng. Trong Bướm Sáu Cánh, Thiền Đăng góp 27 bài.
Bước
Hắn bước, chân phải bước trước
Chân phải vấp hòn đá,
hắn ngã, rồi cười, đứng dậy,
rồi bước chân trái bước trước,
chân phải vấp phải hòn đá,
hắn ngã, rồi cười, đứng dậy,
rồi bước, hắn bước, chân nào
bước trước, chân nào bước sau,
chân nào vấp phải, hay cả
hai chân, vấp phải hòn đá,
làm hắn ngã, rồi cười, gãi
gãi đầu, đứng dậy, rồi bước.
Chỉ bước, vấp, ngã, cười, dậy, bước tiếp là cả hành trình kiếp người đi quanh bóng mình rồi cuối cùng cũng giã từ quán trọ, khi chưa kịp QUÉT TẤM vén dọn mình. Và, những bài: "Ho Show", "Suy ra", "Cải lương: Đất nước & quê hương", "Chiều trên đồi Thiên An", "Những sự việc xảy ra" ... làm tôi khoái không kém.
Đến với 31 bài thơ của Nguyễn Tất Độ, tôi lắng lòng trước chùm thơ hay: "Đoản khúc", "Bải tin (huyền) cho em", "Hai câu", "(Những) người điên", "Nhật ký cho một ngày", "Bản tình ca số 2", "Những tòa nhà", Nhận diện"... Tôi xin trích ra một đoản khúc:
ĐOẢN KHÚC
1.
Thành phố có nhiều cây sáng nay,
tôi đứng nhìn cây thấp, cây cao...
cây nào cũng có nhiều vết sẹo,
những vết sẹo lặng im, không muốn
nói với ai lời nào... cũng như
những phận người, không có chung nỗi
buồn nhưng thở dài chung tiếng...
2.
Thành phố có nhiều đường, tôi thường
đi lạc. Những con đường giống nhau,
giống nhau và rất lạ... Lòng người
nhiều nẻo. Tôi như trẻ lên ba,
cứ tưởng ai cho kẹo cũng là
người tốt, lắm khi buồn bã về nhà...
3.
Trời vào xuân hoa thơm... Hoa cũ
trên cành hoa mới. Trăm năm vẫn
luân chuyển trường tồn. Người cuốn cuồn
mua sắm, cuốn cuồn làm mới lại
vui buồn. Phố Nguyễn Huệ người người
chen chúc, em đừng tưởng như thế
là đông đúc, chỉ là cô đơn
tiếp nổi những cô đơn... Tôi sẽ
4.
thức trong đêm giao thừa... như đã
thức trắng những đêm dài trăn trở,
chỉ có điều tôi sẽ không động
đến những câu thơ đã bắt đầu
mục rữa... Ngửa bàn tay, tôi sẽ
lại bói cho mình...
Cuối cùng chúng ta cũng đến với Gyảng Anh Iên, 27 bài thơ của nhà thơ kết thúc Bướm Sáu Cánh. Những băn khoăn về định mệnh được nhà thơ giải thích rồi không lý giải gì trong "Hỏi". Và, tôi lại sững sờ trước những bài "Cột điện", "Chuyện chẳng liên quan đến phở", "B&Y&T"...Riêng cái nhìn ngược thời gian và dự báo cho bạn, cho mình trong "Bệnh viện chưa xây". Có lẽ nhà thơ đã quay về bản lai để diện mục, chọn lựa cho mình một chỗ đi về.
Bệnh viện chưa xây
trong khuôn viện bệnh viện
chưa xây tôi nhìn thấy
năm chiếc giường bệnh được
sơn trước rồi lại nằm
đó phơi nắng phơi mưa
cho tôi được nhìn thấy
mỗi đêm là chiếc giường
màu trắng nơi ông tôi
đã trút hơi thở cuối
cùng đầy nhọc mệt bên
cạnh chiếc giường màu gi
nơi thím tôi đã cố
ngăn dòng nước mắt với
thông báo của bác sỹ
về tình trạng của chú
tôi. hai chiếc giường nằm
song song như chờ đợi
người bác sỹ sẽ đem
đến cho mẹ tôi một
lời động viên khác hơn
với những nghĩ suy là
định mệnh trên chiếc giường
màu xanh sẽ là nơi
nằm lại của bố tôi
trong khuôn viên bệnh viện
chưa xây vẫn còn hai
chiếc giường bệnh chưa kịp
khô sơn mà tôi cũng
chẳng rõ là màu gì
cho hợp với bạn và
tôi?
Bướm Sáu Cánh là một tập thơ với cách viết tửng tưng và thẳng thừng dụng ngôn, như họa sỹ vẽ những gì vừa hiện lên mong manh trong đầu, bằng lối thơ tân hình thức, một thể loại có tính ưu việt bởi nói thẳng, nói thật với chính mình bằng những dòng bạch ngôn chân xác mà không kém tư duy. Tuy không dùng ngôn ngữ mê hoặc, nhưng nguời đọc vẫn SƯỚNG bởi tứ thơ BẬT NỔ trong tâm thức từ nhịp rung cánh bướm, vỡ những giao động mới cho ta bay vào một cõi thơ trần trục và nổi loạn nhất của loài người tính đến thời điểm này!
Huế, ngày 19 tháng 7 năm 2007
N.N.A