2. Một câu hỏi do một thân hữu (TTD) đặt ra từ lâu:
“Không phải những người chống đối thơ Tân h́nh thức làm hại thơ Tân h́nh thức, mà do chính những người làm thơ Tân h́nh thức quá tùy tiện dễ dăi, đă làm mất đi giá trị và niềm tin nơi người đọc.”



Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta thử phân tích cách làm thơ Tân h́nh thức Việt so với thơ truyền thống tiếng anh và tiếng Việt.

Nếu không có kinh nghiệm về thơ vần điệu, rất khó để hiểu thơ tiếng Anh, cả truyền thống lẫn tự do, nếu chúng ta đọc những cuốn sách dạy về cách làm thơ. Những thể luật thơ của ngôn ngữ nào cũng vậy, xuất phát từ những lời ca, ở rất xa xưa. Đặc biệt thơ tiếng Anh, đă chuyển thành lời đọc, từ sau thời Homer (750 trước Công nguyên). Tiếng Anh là tiếng đa và trọng âm, âm thanh rất ṛn ră v́ cách nuốt âm khi nói, nghe rất giống iambic (không nhấn, nhấn) , nhưng khi viết lại trên trang giấy th́ không phải là iambic. Luật thơ truyền thống tiếng Anh làm công việc ngược lại, sao chép âm nói lên trang giấy và biến thành luật thơ Iambic. Như vậy luật thơ là nhịp điệu (rhythm) tự nhiên của ngôn ngữ nói, đă nằm trong tâm thức của nhà thơ. Khi sáng tác, người làm thơ chỉ c̣n bận tâm tới luật vần. Mà luật vần th́ quá đơn sơ, cũng đă phục sẵn bên trong nhà thơ rồi. Tiến tŕnh hoàn thành bài thơ âm ỉ bên trong nhà thơ, sự hài ḥa các âm tiết, h́nh ảnh, ư tưởng, và khi nhà thơ viết xuống trang giấy th́ có khi chẳng cần sửa đổi ǵ nhiều, v́ sửa nhiều sẽ mất đi tính tự nhiên của thơ. Luật thơ truyền thống Anh, rút lại là: Nhịp điệu của ngôn ngữ tự nhiên và vần.

Trường hợp thơ vần điệu tiếng Việt cũng tương tự: Sự nhịp nhàng (melody) của ngôn ngữ tự nhiên và vần. Người làm thơ đă nằm ḷng vần điệu rồi, nên luật tắc thơ gần như không có ǵ cần nói. Điều đáng ghi nhận, trong nhịp điệu của thơ tiếng Anh đă bao hàm luôn cả sự nhịp nhàng của ngôn ngữ. C̣n tiếng Việt chỉ là sự sắp xếp sao cho hài ḥa những âm bằng trắc. Khi thơ tự do tiếng Anh muốn thoát ra khỏi âm thanh đều đặn của Iambic và vần, đă dùng phương pháp lập lại chữ và nhóm chữ để thay thế vần. Thơ Tân h́nh thức Việt đơn giản, cũng chỉ là: Sự nhịp nhàng của ngôn ngữ tự nhiên và kỹ thuật lập lại (để thay thế vần). Trường hợp vắt ḍng chỉ là một đặc điểm của thơ không vần.

Thơ như một cánh diều: luật thơ là sợi dây chỉ (phải đơn giản), con diều là thơ, gió là tài năng của nhà thơ. Tài năng càng lớn, thơ càng hay, cũng như con diều gặp gió. Nhưng nếu không có luật hay luật thơ quá rắc rối th́ dù có tài năng lớn cũng không thể có thơ, không ai có thể thả diều với không có sợi dây hay với một sợi dây thừng. Trường hợp thơ Lục bát của Việt nam: Ai cũng có thể làm, từ người không biết chữ Quốc ngữ tới những tài năng lớn như Nguyễn Du. Người ta dùng Lục bát để cổ động bầu cử, tuyên truyền chính trị, nhưng cũng dùng Lục bát để hoàn thành những tác phẩm lớn như Truyện Kiều.

Nhà thơ phải nắm chắc ngôn ngữ tự nhiên. Những nhà thơ vần điệu có kinh nghiệm về âm thanh tinh tế của ngôn ngữ, tạo nên nhạc tính lôi cuốn cho thơ nhưng thường lại khó thoát ra được thói quen vần điệu. Trong khi những nhà thơ tự do, không có được kinh nghiệm đó nên những bài thơ tự do thường thiếu nhạc tính, ít người đọc. Thơ Tân h́nh thức Việt cân bằng lại t́nh trạng đó, chỉ có điều nhạc tính trong thơ Tân h́nh thức là loại nhạc tính đọc, và nhạc tính trong thơ vần điệu là nhạc tính để ngâm nga.

Bây giờ chúng ta có thể trả lời câu hỏi trên: Bất cứ luật thơ nào cũng tùy tiện dễ dăi, ai cũng có thể làm, tùy tài năng và cơ duyên, điều này nói lên được tinh thần tự do và b́nh đẳng của thơ. Thơ hay sẽ tồn tại, thơ dở tiêu tan với thời gian, chẳng có ǵ chúng ta phải lo ngại. Thơ độc quyền cho một số người làm th́ cũng độc quyền để họ đọc với nhau. Thơ Tân h́nh thức dễ làm nhưng khó hay, cũng như thơ Lục bát vậy. Nhờ thế mà chúng ta đang mở rộng thơ đến cho mọi người, làm cũng như đọc thơ.

KHẾ IÊM


Home