TÂN H̀NH THỨC: MỘT THỂ THƠ ĐĂ THÀNH H̀NH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
Quỳnh Thi



Lư do xuất hiện

Thơ Tân H́nh Thức xuất hiện trên tạp chí Thơ lần đầu tiên khoảng dăm năm trở lại đây. Nó đồng hành với những thể thơ khác đă định h́nh và có một nền tảng vững chắc từ xa xưa như Lục Bát, Tiền Chiến và thơ Tự Do trên cùng một diễn đàn thơ sang trọng.

Tôi nói sang trọng v́ thơ từ trước trong Văn Chương Việt Nam chưa có một tạp chí chuyên về thơ, suy luận về thơ, đăng tải phổ biến thơ của các tác giả có uy tín của Việt Nam và các nhà thơ danh tiếng trên Thế Giới. Thế mà nó đă được những Nhà Thơ ở hải ngoại trân trọng dựng cho một ngôi Giáo Đường tráng lệ. Chuyên biệt trong lănh vực thi ca. Họ thi thố sáng tạo và hành lễ đủ mọi khuynh hướng, các trường phái cổ điển và tân cổ điển đến canh tân làm mới thi ca, nhưng canh tân là một tôn chỉ và chủ trương của những Nhà Thơ điều hành tờ tạp chí lẫn những Nhà Thơ thường xuyên cộng tác.

Nhiều người cho rằng, thơ Việt đă có một tuổi thọ dài lê thê (và quá mức cần thiết), sống trong ngôn ngữ diễm lệ chải chuốt, mượt mà giả tạo. Những câu thơ bóng bẩy, đầy ước lệ, sáo ngữ thực chất rất xa lạ với đời sống con người do tưởng tượng thái quá trong sự ủy mị và mơ mộng của các nhà thơ. Nó lập đi lập lại với những vần bằng vần trắc nghe đă ứ lên v́ đă quá nhiều năm tháng, đă quá đầy đến nhàm chán đôi lúc như là phải chịu cực h́nh! Mà những người làm và yêu thơ đều phải công nhận và muốn t́m cho thơ một lối thoát, một ngơ đi ra.

Vậy thoát bằng cách nào? Đó là một câu hỏi khó khăn để trả lời khi chúng ta đang đi t́m một thể thơ khác cho phù hợp v́ con thuyền thơ đă trôi êm đềm hàng bao trăm năm trên một ḍng nước, chỉ với một cung cách vần điệu đă quá lỗi thời. Nếp cũ đă ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người VN chúng ta. Những câu ca dao ngọt ngào nằm nôi mẹ ru. Cái khuôn thẩm mỹ như một dấu ấn mỗi ngày mỗi sâu thêm theo nhịp điệu ngọt ngào để tạo nên một tâm hồn đa sầu đa cảm ít hoạt động và không muốn thay đổi, để suy nghĩ ra những thể thơ khác cho phù hợp với thời đại.

Hầu như tất cả đồng thuận và cho rằng, nếu người làm thơ đáp ứng được những t́nh cảm ấy th́ mới được mọi người đón nhận và coi là thơ. Chính v́ thế nay muốn thay đổi cái tập quán thưởng ngoạn đă ăn sâu, làm hao tổn nhiều giấy mực, công sức của nhiều thế hệ Nhà Thơ và những người muốn đổi mới thi ca.

Vậy muốn thay đổi phải có cái để thay thế mà cái được dùng để thay thế phải tốt hơn, hay hơn cái được thay thế th́ người ta mới thay mới đổi. Trên phương diện văn chương, thể văn hay thể thơ, nó c̣n phải phù hợp với cảm nhận về thẩm mỹ về thi pháp của của người Văn sĩ, người Thi sĩ sáng tác th́ mới được chấp nhận.


Thể thơ Tân H́nh Thức (New Formalism Poetry) tuy mới xuất hiện được dăm năm, nhưng nó đă được nhiều người yêu thơ biết đến, nói đến cả trong nước không riêng ǵ ở hải ngoại. Tuy chưa phải là một phong trào đă được bành trướng rộng lớn, mọi người t́m đọc và ủng hộ, v́ nó c̣n đang mới mẻ, trẻ trung. Sự khích lệ c̣n nằm ở trong một vị trí khiêm nhượng trong giới làm thơ, nhiều nhà thơ c̣n đang e dè t́m hiểu. Nhưng dù sao đây cũng là một khởi đầu, một tiền đề suông sẻ để chúng ta vững bước tiến lên. Nó đă là nền tảng cho niềm tin vào một thể thơ hiện đại. Điều quan trọng là nó đă thành h́nh trong văn học Việt Nam. Ở bất cứ một sự thay đổi nào, thường th́ chúng ta hay gặp khó khăn về thói quen v́ cái mới luôn xa lạ với cái mà chúng ta nh́n thấy, nghe thấy mỗi ngày từ bao lâu nay.

Thi pháp làm một bài thơ THT bẩy chữ hay tám chữ , khi đọc lên nó khác lạ so với một bài thơ mới cũng bẩy chữ tám chữ như trước đây chúng ta thường làm. Thi pháp của nó không lệ thuộc vào âm hay vần bằng trắc để tạo nhạc tính cho thơ như thơ tiền chiến hay thơ đường luật. Nhạc tính cho thơ THT là cách lập lại ngôn ngữ . Nó uyển chuyển (lập lại) tùy theo kinh nghiệm của mỗi nhà thơ. Cách gieo vần cho từng câu và lối xuống hàng đột ngột khi câu chưa hết ư nghĩa để gợi sự chú ư, suy nghĩ nơi người đọc. Âm hưởng của mỗi câu thơ ngắt quăng ghồ ghề theo nhịp riêng, cách gieo vần bằng trắc không êm tai chủ ư có ư thức bởi người làm thơ, tạo cho ngôn ngữ bài thơ đi gần với sự thật đời sống con người. Đó là những khác lạ, độc đáo mà mỗi người muốn thưởng thức phải làm quen với luật tắc th́ mới lănh hội được. Như đă nói ở trên, ngôn ngữ dùng để làm thơ THT là ngôn ngữ dễ hiểu, đọc đến đâu người đọc bắt gặp ngay cái ư tưởng mà tác giả muốn truyền đạt. Chữ nghĩa không cầu kỳ, bí hiểm. Nó phải là ngôn ngữ mà chúng ta thường gặp hàng ngày và thường dùng hàng ngày.

Có một điều nên lưu ư là ngôn ngữ được dùng, không v́ thế mà trở nên tầm thường rẻ rúng. Cái b́nh thường khác xa với cái tầm thường. Điều đó nói lên cái bản lănh, cái nội lực thâm hậu của mỗi nhà thơ. Làm thế nào để bài thơ không rơi vào hoàn cảnh của một đoạn văn xuôi hời hợt, nhạt nhẽo.

Có không ít người lầm tưởng thơ THT chỉ là một đoản khúc hay là một đoạn văn xuôi được cắt ra, v́ đọc lên nghe nó trúc trắc, có khác chăng là sự xuống hàng đột ngột mà câu văn chưa hết ư, chưa trọn câu chứ thơ ǵ mà kỳ cục vậy!

Nói như thế, một là ta chưa nắm được luật tắc của thơ THT (thơ nào mà không có luật tắc). Hai là người đọc bắt gặp phải một bài THT dở mà người làm ra bài thơ như đă nói ở trên là chưa có bản lănh, c̣n yếu tay nghề.

Thơ Tân h́nh thức là ǵ?

Thơ THT là một thể thơ có tên gọi là Thơ THT (New Formalism Poestry). Đây là một loại thơ không phải chỉ coi nặng về mặt h́nh thức như một số người đă hiểu lầm. Bất cứ một loại thơ nào, một thể thơ nào, nội dung cũng phải gắn liền với h́nh thức. Nó giống như một con người, phải có thể xác và linh hồn th́ mới được gọi là con người. Một bài thơ mà chỉ có phần h́nh thức không thôi th́ sao gọi được là một bài thơ. Nhưng cái h́nh thức của một bài THT th́ lại không giống một bài thơ thường thấy từ trước, tuy số chữ mỗi hàng trông giống nhau. Cách cấu trúc của thể thơ, ngôn ngữ dùng để kiến tạo nên bài thơ xem ra tất cả đều khác, ngay cả khi đọc lên, âm thanh và nhạc tính cũng không tạo ra một cách êm ả dễ nghe, dễ thuộc. Có một điều cần nhớ là thơ THT không thể ngâm được (không thể ngâm như thơ đường luật hoặc tiền chiến). Bởi bản chất của thi pháp không đánh lừa người nghe bằng ảo giác thưởng ngoạn, không đánh lừa thính giác bằng vần điệu du dương bằng thứ cảm xúc giả tạo.

Câu thơ THT ư nghĩa nằm âm ỉ giữa hai hàm răng (suy nghĩ) người đọc. Người đọc bằng miệng hay bằng mắt. Khi đọc lên nó phù hợp với âm nhạc thời đại như nhạc Rap hay Blue. Nhạc tính của thơ tùy thuộc cảm hứng của người Thi sĩ, nên khi đọc ta lựa cách đọc nào, sao dễ truyền cảm được đến người nghe.

Nội dung THT cũng chuyên chở theo một thi pháp của chính THT. Nghĩa là nó chuyên chở tất cả những ǵ mà người thi sĩ cần truyền đạt. Nó không có những câu thơ hiểm hóc, bắt bí người đọc phải bóp đầu, bóp trán măi cũng không t́m ra ư nghĩa của câu thơ mà người viết đă gủi gấm. Nội dung thơ THT giải bầy tuốt tuồn tuột hiện thực. Nó chia sẻ với người đọc ngay tức thời cái nội tâm mà người thi sĩ vừa nghĩ vừa viết ra. Những chuyện thường ngày của đời sống.

Trong thời gian xảy ra trận sóng thần Tsunami tháng 12 vừa qua. Câu lạc bộ Thơ THT kêu gọi anh em làm thơ cổ động cứu trợ nạn nhân sóng thần. Chỉ trong ṿng chưa đầy tuần lễ, những bài thơ THT đầy ắp cảm xúc được gửi về. Tất cả đă tỏ bầy t́nh cảm xót đau hết sức là chân thật, nồng nàn và cảm động. Có lẽ chỉ có THT mới thể hiện được sự chân thành của những thi sĩ bén nhạy và bộc trực đến như thế. Đó là ưu thế của một thể thơ mà chúng ta đang say sưa thể hiện làm ra. Người làm thơ nghĩ sao viết vậy, nhưng không v́ thế mà giảm đi cái phong cách nghệ thuật của những bài thơ. (Mời các bạn đọc lại ở trang Website). Do vậy mà tôi muốn mạn phép quí Thi sĩ gọi nó là thơ Tân Hiện Thực.

Sự chuyển hoá

Sự chuyển hóa của THT trong thời gian gần đây, thật là đáng kể. Nó đánh động người làm thơ ở ngoài nước và tác động người làm thơ cả trong nước viết tính truyện làm xúc động ḷng người (thơ về trận động đất sóng thần, vẫn chưa ngừng xuât hiện đây đó). Nó làm theo nhu cầu đ̣i hỏi của tâm hồn lẫn cảm xúc biến đổi quá khứ. Cái nhu liệu ngôn ngữ thơ một thời được dồn vào một ngăn tủ để làm tài liệu và dần lăng quên. Đó là tôi đang nói đến một số các nhà thơ tích cực muốn thay đổi cái tâm nguyện của ḿnh trong nhu cầu làm mới thơ hiện đại Việt Nam.

Mức chuyển động tuy chưa đồng bộ, nhưng đă lóe lên nhiều ánh lửa lạc quan. Nhận thức đă đi đúng phương hướng chọn lựa trong cung cách canh tân phù hợp với tâm hồn người Việt Nam, đánh thức sự say ngủ đă lâu dài giới làm thơ lẫn người yêu thơ vùng dậy để đuổi kịp trào lưu thơ Thế Giới.

Có một số người cho rằng, những người làm thơ THT là chạy theo văn hóa ngoại lai, là theo đuôi bắt chước người khác, là đưổi theo một phong trào thời thượng mà đă là phong trào th́ sớm bùng lên và mau tàn lụi. Tôi nghĩ những ư kiến trên là cực đoan và thô thiển sai lầm. Thời gian sẽ trả lời cho những ư kiến ấy.

Học hỏi

Trong Thế Giới hiện đại, nhu cầu học hỏi để tiến bộ là một đ̣i hỏi cấp bách. Không riêng ǵ trong lănh vực thi ca văn học hay các loại văn hoá khác, mà tất cả các ngành như kinh tế chính trị và khoa học. Sự học hỏi để mở mắt ra, để nh́n thấy sự tiến bộ của Thế Giới là ánh sáng đáng khao khát cho những người mắt c̣n bị quáng gà hay thậm chí bị đui mu .

Thơ THT là một loại thơ cần học hỏi và đáng để học hỏi. Chỉ tiếc rằng cái lư thuyết của nó được dịch ra, được viết ra. Các nhà lư luận văn học, các nhà thơ của chúng ta thực hiện chưa được đầy đủ, chưa được dồi dào phong phú và chưa đáp ứng được nhu cầu đ̣i hỏi của những người yêu thơ muốn t́m hiểu. Nó cần được thảo luận trên các diễn đàn văn học. Nó c̣n cần có nhiều bài lư luận và dịch thuật có giá trị nhiều hơn nữa th́ phong trào mới phát triển rộng lớn hơn được. Tôi biết sự nghi ngờ nơi những người chưa làm THT mà họ mới chỉ đọc sơ qua một số bài, có thể có một số bài chưa hay, chưa lĩnh hội được đầy đủ cái sâu sắc và độc đáo của một thể thơ hiện vẫn c̣n rất mới ngay tại Hoa Kỳ này. Các nhà thơ và các nhà lư luận thơ THT ở Mỹ như: Dana Gioia, Paul Lake, Frederick Feirstein, Frederick Turner .v.v... Đang ráo riết và hăng say viết những tiểu luận rất xúc tích về THT cũng phải xét đến những khó khăn để thuyết phục mọi người đọc và công nhận v́ loại thơ c̣n mới mẻ này.

Tôi nghĩ cách hay nhất là các nhà thơ Việt Nam nên bắt tay vào làm THT th́ sự thuyết phục và yêu thích nó mới nẩy mầm và hứng khởi. Chỉ khi nào chúng ta bắt tay vào làm, th́ sự kiện mới phát sinh, ư tưởng mới dồi dào và thơ mới tuôn ra, v́ THT có một nét đặc trưng riêng để diễn tả những điều mà nhà thơ cần chia sẻ. Đôi khi cái cụ thể hóa của đời sống thường xảy ra không thích hợp để viết bằng những loại thơ khác th́ THT nói lên được những điều mà ta muốn nói như một người kể chuyện v́ mục đích của THT đưa đến người đọc là tính truyện.

Nhưng nói như thế không phải là nó xóa bỏ đi h́nh tượng ẩn dụ mà nhà thơ muốn kư gửi hay diễn tả trong bài thơ. H́nh tượng ẩn dụ là một cái bóng siêu h́nh cần thiết ở mỗi thể thơ nào cũng xuất hiện cần phải có. Nó tùy thuộc ở tŕnh độ và nội lực thâm thúy của mỗi nhà thơ. Cái bén nhạy trong suy tư được núp sau ngôn ngữ để người đọc đi t́m, đi bắt cái ư tưởng đang lẩn trốn.

Trong một bài viết về thơ THT, tôi có nói là mọi thể thơ đều b́nh đẳng. Có nghĩa là THT không hề muốn xóa bỏ hay loại trừ một thể thơ nào khác đă có hoặc đang hiện hành. Nó tùy theo t́nh cảm và nhu cầu mỗi nơi, mỗi lúc mà người làm thơ có ngẫu hứng muốn làm hay thích làm loại thơ nào cho phù hợp với tâm trạng thi nhân. Nhiều khi tâm trạng muốn nói lên những ǵ xa xôi ẩn khuất không tiện giăi bầy theo lối THT, th́ lúc đó người thi sĩ sẽ áp dụng thơ tự do hay thơ lục bát v.v&. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, khi đă mê làm THT rồi th́ người ta quên hết Lục bát tự do hay tiền chiến. Bởi khi đă nhiễm THT vào đầu rồi, đă làm nhuần nhuyễn rồi, th́ cái ẩn ư hay siêu h́nh nào mà ḿnh muốn truyền đạt cũng không phải là khó là bất khả tư nghị. Cái khó khi làm THT là mỗi bài thơ phải được sáng tạo một cách thực sự, để nó không giống những bài thơ khác về cách gieo vần tạo nhạc điệu. Phong cách phải khác. Thi pháp phải điêu luyện. Ư tưởng phải hàm xúc th́ bài thơ mới hay, mới thuyết phục người đọc.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ b́nh thường của đời sống trong thơ THT, không phải là không được chọn lọc. Không phải là ù lỳ với những chữ nghĩa đă cũ kỹ. Chữ cũng phải t́m chữ mới, những chữ đắt giá, làm sao cho bài thơ khác lạ, để khi ta đọc lên nghe có một tiếng chuông của riêng ḿnh. Cái phong cách của riêng ḿnh không lẫn vào với đám đông. Bài thơ nào cũng vậy, nếu thiếu sự sáng tạo (bằng cách bắt chước người khác). Thiếu sự khó khăn với chính ḿnh, bằng cách xuề x̣a dễ dăi, th́ nó sẽ trở nên xoàng và nhạt nhẽo. Không riêng ǵ thơ THT, cái bắt nguồn của tư duy trong sự liên tục là phải nghĩ ra, phải làm ra. Phải tưởng tượng kích động đi t́m, đi săn lùng ư tưởng, săn lùng con chữ.

Thơ THT ra đời cũng không có ǵ là lạ. Bởi mỗi thế hệ nhà thơ luân chuyển tiếp nối họ đều có trách nhiệm cách tân, làm mới văn thể và ngôn ngữ cho thơ. Nói cho vui, thơ cũng chỉ là một tṛ chơi, tṛ chơi trí tuệ. Nó đuổi bắt bởi nhà thơ, sáng tạo luôn không cho nhà thơ dừng lại. Biến họ trở thành người nặn tượng tạo h́nh cho ngôn ngữ thơ. Hiểu một cách trang trọng: Đó là những nhà lập ngôn không thể thiếu của văn học. Ở Hoa Kỳ những nhà phê b́nh: Mc Phillips, David Lehman, Dana Gioia... Cổ vơ cho New Formalism Poestry bằng cách giới thiệu các thi tập Nhịp Mạnh (strong Measures) hay Cả Trăm Đom Đóm (Hungdred of Fireflies) trong giữa thập niên 80. Lôi cuốn phong trào thơ mở rộng này.

Ở hải ngoại phong trào vận động làm thơ THT sau hơn ba thập niên xuất phát từ Hoa Kỳ, c̣n phải học hỏi nhiều. Dầu sao sự cố gắng của chúng ta trong giai đoạn này là tiền đề, để những thế hệ đi sau, nhất là những người ở trong nước có dịp tiếp xúc nghiên cứu, t́m hiểu và làm phát triển, làm lớn mạnh THT trong tương lai, v́ THT là một thể thơ phản ảnh sự chân thật của đời sống hiện thực và nó cũng là một loại thơ phù hợp với tâm thức thi ca dân tộc.

QUỲNH THI
02/13/05


Home