SIÊU THỰC & PHƯƠNG ĐÔNG
Jean Clair
Nguyễn Đăng Thường dịch




"Thế giới vào thời chủ nghĩa siêu thực"
trong tạp san Variétés, số đặc biệt "Chủ nghĩa
siêu thực năm 1922", Bruxelles, tháng sáu 1929.
trang 26-27.

Đôi lời

Chủ nghĩa siêu thực sẽ không được đề cập ở đây in totumin partem. Chúng tôi không quan tâm đến những tác phẩm xuất phát từ chủ nghĩa siêu thực, những họa phẩm người ta có thể ngưỡng mộ trong nhà bảo tàng, những bài thơ, bài viết người ta có thể t́m đọc trong thư viện, mà chỉ thảo luận, v́ khó truy cập và ít được quần chúng biết đến, về căn bản lư thuyết của một trào lưu tư tưởng cũng tự xưng là một phong trào chính trị. Cái mà chúng tôi muốn đề cập và t́m hiểu, sine ira et studio, không phải thẩm mỹ của chủ nghĩa siêu thực, mà địa vị khác thường của nó giữa những ư thức hệ đương thời . Những xích gần giữa nó với các chủ thuyết khác mà chúng tôi buộc phải làm trên b́nh diện đó có thể gây kinh ngạc.

Vụ án này không mới . Chúng tôi có ghi nơi đầu mỗi chương những trích dẫn của Carl Einstein ngược về tận những năm 30. Einstein là một trong các lư thuyết gia lớn về nghệ thuật của nửa phần đầu thế kỷ (1). Ấy là những luận thuyết về nghệ thuật tiền phong ở Paris, Braque, Picassso, Léger, Masson, mà ông đă có những trang viết thấu triệt. Từ năm 1913, tiểu luận Negerplastik của ông là cuốn sách lư luận đầu tiên về nghệ thuật châu Phi . Năm 1928, ông sang định cư tại Paris và, trong khoảng thời gian xa xứ này, cùng với Georges Bataille, Georges-Henri Rivière và Georges Wildenstein ông sáng lập tạp chí Documents. Ông là người đầu tiên đặt cái nh́n của nhà nhân chủng học lên các sản phẩm của nghệ thuật hiện đại, dẫn tới phê b́nh. Là người bênh vực những phong cách tiền vệ trong thập kỷ 20, nhưng ông đă xa lánh chúng trong thập kỷ 30 để dấn thân vào một cuộc phân tích triệt để các phong trào trí thức và nghệ thuật Tây Âu . Và chủ nghĩa siêu thực bị ông nhắm một cách gắt gao nhất. Ông sẽ định nghĩa, trong một luận văn mănh liệt và châm biếm, viết năm 1935 và 1937, nhưng chỉ xuất bản năm 1973 ở Đức (2), cái mà ông cho là sự phản bội của giới trí thức. Tác phẩm này, có thể phạm thánh đối với ư niệm cứng nhắc của chúng ta ở Pháp về tính hiện đại, vẫn chưa được chuyển ngữ.

Tuy nhiên, dẫu có t́nh nguyện đứng dưới quyền lực của Carl Einstein, chúng ta cũng có thể sẽ không né tránh được sự phê phán. Sự sửa sai đă tăng. Sự mê muội cũng thế.

Gần một thế kỷ đă chia cách chúng ta với những bước đầu của chủ nghĩa siêu thực. Điều ấy đă đủ để chúng ta vươn tới sự b́nh tĩnh. Nếu xưa kia nó từng là mối đam mê th́ hôm nay nó phải là đầu đề để nghiên cứu . Chúng tôi không mang chủ nghĩa siêu thực ra để xử kiện: chúng tôi đă gia tăng các câu hỏi, nhưng tránh việc trả lời dứt khoát. Cuộc vận hành rất đau đớn nhưng cuối cùng không được thỏa măn bao nhiêu .

Tuy nhiên có thể bản tính của sự kích bác là vượt quá giới hạn, và ở chỗ này hay chỗ kia chúng tôi đă bị cuốn hút bỏi sự tha thiết đối với đề tài . Breton đă chẳng từng viết: "Một chân lư sẽ luôn luôn đáng chấp nhận hơn nếu được phát biểu bằng giọng điệu nhục mạ" hay sao ? (3)

Chủ nghĩa Siêu thực và phương Đông

Các nghệ sĩ trong thời điểm quanh 1910 thuộc về một thế hệ đă lớn lên trong ảo giác của một ṿm trời tiến bộ. Cái thế hệ này đă nghĩ rằng nó có thể tạo dựng những thiên đường, như có phép mầu, bằng những công thức của trí tuệ [...]. Mặt khác, họ cũng tưởng tượng rằng họ có thể bác bỏ những sự kiện bằng những họa phẩm. Đây chính là giới hạn của nghệ thuật.
Carl Einstein

Chúng ta cần nh́n lại tấm bản đồ thế giới kỳ dị do các đệ tử của André Breton ấn hành năm 1929 (4). Phương cách chiếu rọi không tuân theo thông số địa dư hay t́nh trạng kinh tế mà dựa trên văn hóa . Mỗi xứ được thể hiện tùy vào mức quan trọng của di sản dưới cái nh́n của chủ nghĩa siêu thực. Pháp đă teo lại thành một dấu chấm, và châu Âu, cứu vớt bởi chủ nghĩa lăng mạn và Freud, thấy diện tích của nó được giới hạn giữa Đức và Áo-Hung. Alaska và Labrador lớn rộng hơn Trung Quốc, và Nouvelle-Guinée to gấp ba lần Úc châu . Mối đam mê của các nhà thơ siêu thực dành cho các nền văn hóa "đầu tiên", sự ngất ngây của họ đối với nghệ thuật châu Phi và nghệ thuật Ơxêani đă bừng lên ở đây, đối chọi tinh thần quốc gia hẹp ḥi đang ngự trị bên Ư nhân danh tính Italianità (tính Ư Đại Lợi), và bên Đức th́ dưới dạng chủng tộc chính trị được thực thi nhân danh cái Volk (tính dân tộc) của Đức.

Tuy thế đă có hai "sửa sai" khá bất ngờ đáng được lưu ư: Hoa Kỳ không c̣n hiện hữu, bị ch́m dưới một lằn ranh nối liền Mễ Tây Cơ với Gia Nă Đại . Và một nước bé nhỏ bỗng nhiên chiếm một không gian quá mênh mông, bao la hơn cả Ấn Độ: A Phú Hăn.

Ngẫu nhiên? Không. Chủ nghĩa siêu thực đă luôn luôn mong ước cái chết của một nước Mỹ duy vật và bất thụ dưới mắt họ, và nóvẫn mong muốn sự đắc thắng của một phương Đông là nơi tích lũy các giá trị tinh thần.

Giữa những năm 1924 và 1930, nhiều văn bản theo nhau ra đời nhấn mạnh sự tưởng tượng mang tính cách tận diệt đó. Aragon, năm 1925:

"Chúng tôi sẽ thắng lư đối với tất cả. Nhưng trước hết, chúng tôi sẽ hủy diệt nền văn minh yêu dấu này của các bạn, nơi mà các bạn đang bị đúc khuôn như súc vật hóa thạch trong nham phiến. Thế giới phương Tây ơi, mi tới số rồi . Chúng tôi là bọn chủ bại của châu Âu... Hỡi phương Đông, hỡi mối khủng khiếp của chúng tôi, hăy mau đáp lời gọi . Chúng tôi sẽ đánh thức mọi nơi những mầm mống hỗn loạn và bất an. Mọi hàng rào ngăn chặn đều tốt đẹp, mọi chướng ngại vật đối với hạnh phúc các bạn đều bị nguyền rủa..." (5)

Cũng không thiếu chiều kích tiên tri khi tổng kết:

"Và bọn buôn lậu ma túy hăy ùa vào các xứ sở trong khiếp sợ của chúng tôi . Và nước Mỹ nơi xa hăy mau sụp đổ dưới những ṭa cao ốc..." (6)

Ngày 11 tháng 9, 2001, giấc mơ của Aragon đă bỏ siêu thực để trở thành thực tế. Các ṭa "bin đinh trắng" của Twin Towers sụp đổ trong biển lửa khi phương Tây ngơ ngác phát hiện trên tấm bản đồ thế giới một đất nước gần như bị lăng quên: A Phú Hăn.

Sự cực đoan của các nhà thơ siêu thực đă không chỉ là ngôn từ. Nếu hành vi siêu thực giản dị nhất là ra đường rút súng bắn vào người khách qua đường đầu tiên, th́ ấy là mang án mạng đặt trong tầm tay của kẻ tới trước, như chủ nghĩa siêu thực nằm trong tầm với của mọi kẻ vô ư thức. Ngay từ năm 1925 cũng đă có sự nhờ vả các "chiếc búa vật liệu" (marteaux matériels) để đập phá những chướng ngại vật đè nén tâm trí. Bạo lực tương tự, nếu được chính trị ủng hộ, sẽ thừa cơ để tấn công một tây Phương bị nguyền rủa . Chính anh chàng Robert Desnos dễ thương đă nh́n châu Á như là "thành tŕ của mọi hy vọng", đă vẫy gọi thỉnh cầu bọn dă man, những kẻ duy nhất c̣n có thể nối gót các "siêu thiên thần của Attila" (7). Sát cánh với những người cộng sản, các nhà thơ siêu thực đă tố cáo "giai cấp tư sản đế quốc háo chiến" của phương Tây, tố cáo "những giáo điều ngột ngạt về Nhà Nước và Tổ Quốc". Cuộc đương đầu sẽ kết thúc với sự đắc thắng vẻ vang của phương Đông được các nhà thơ siêu thực coi như là "cái kho lớn tồn trữ sức mạnh hoang dă", như đất nước vĩnh hằng của những kẻ tàn phá lớn, những kẻ thù muôn đời của nghệ thuật và văn hóa là "những tṛ lố lăng cỏn con của bọn người ở phương Tây". Thư cho các trường Bụt do Antonin Artaud viết, cũng là lời kêu gọi cuồng điên về một "chủ nghĩa thần bí kiểu mới" có thể cứu văn phương Tây ra khỏi mối hiểm nguy của chủ nghĩa duy vật: "Châu Âu duy luận lư học không ngớt nghiền nát trí tuệ [...]. Như các bạn, chúng tôi đẩy lùi sự tiến bộ: các bạn hăy đến, hăy giật sập cửa nhà chúng tôi ." Và vẫn thế, trong một văn bản tập thể do cả nhóm đồng kư tên: "Ấy là sự chúng tôi vất bỏ mọi qui luật được chấp thuận, ấy là sự mong đợi những lực lượng mới, những sức mạnh ngầm, có thể làm rung chuyển Lịch Sử, khiến chúng tôi quay nh́n về châu Á... Đă đến lúc người Mông Cổ tới dựng lều nơi công trường của chúng ta", vân... vân. (8)

Nhà phê b́nh Hannah Arendt đă viết từ năm 1949: "Trước khi một trí thức nazi tuyên bố Khi nghe nói đến từ văn hóa, tôi lập tức rút súng ra, các nhà thơ cũng phát biểu sự ghê tởm của họ đối với cái văn hóa bẩn thỉu và họ đă làm thơ mời mọc Hỡi hết thảy bọn người dă man, người Scythe, người Da Đen, người Ấn Độ, hăy cùng nhau tới chà đạp nó. "

Và bà viết thêm: "Người ta có thể an tâm coi sự bất măn dữ dội đối với thời tiền chiến và những cố gắng phục hưng sau đó [...] như một "cơn hư vô chủ nghĩa". Nhưng làm vậy là quên rằng sự ghê tởm đó có thể được biện minh trong một xă hội đă đặc sệt ư thức hệ và luân lư tư sản [...] Sự phá phách thẳng tay, sự hỗn mang và điêu tàn tự chúng thơi cũng có thể đảm nhận phẩm cách những giá trị tối cao"

Thật ra, mối đam mê mà các nhà thơ siêu thực dành riêng cho phương Đông và nâng lên hàng hủy diệt cuồng điên, nhất là với Artaud, chỉ là sự tiếp tục một cách đương nhiên, giữa thập kỷ 20, làn sóng đông Phương của Thông thiên học (théosophie) xuất hiện 15 năm trước. Một phụ nữ gốc Nga, bà Helena Blavatski, sáng lập phong trào này năm 1875. Thế nhưng địa vị bà dành riêng cho Phật giáo, theo thời gian, đă biến thành một thái độ đấu tranh mănh liệt chống đối phương Tây . Trong thập kỷ đầu, tựa vào các tôn giáo phương Đông, Thông thiên học đă trở thành, nhất là dưới ảnh hưởng Annie Besant và de Leadbeater, một màn vũ khí đấu tranh để "kháng cự lại sự tuyên truyền gây hấn của giáo hội Tây phương", đặc biệt là của Thiên chúa giáo . Đằng sau cái "hiền triết" (sagesse) mà họ tuyên bố phục vụ , đă có ngụ ư chinh phục phương Tây trên b́nh diện tinh thần lẫn chính trị, nơi các đệ tử của Blavatski .

Nhân danh một "thuyết thần bí kiểu mới", ấy là sự cương quyết tấn công tinh thần lơ-gích, lư lẽ, Khai Sáng, cùng với sự thanh tốn di sản tinh thần của Do thái giáo và Thiên chúa giáo, cũng là tiêu chí để chống phá mà Hitler và Staline đă thao túng kịch liệt. Và những kẻ kế thừa cuối cùng của Thông thiên học cuối-thế-kỷ hướng về phương Đông là các nhà thơ siêu thực trẻ tuổi dấn thân trong thập kỷ 20.

Thúc giục giết người là điểm hội tụ của các phong trào tiền vệ. Marinetti là khuôn mẫu tu từ đă gợi hứng cho Mussolini, và chủ nghĩa vị lai (Futurisme) khi sử dụng khéo léo các du ng cụ tuyên truyền đại chúng, như điện ảnh, dàn dựng, lễ nghi, biểu t́nh trên đường phố, đă cung cấp những ch́a khóa cho sự thẫm mỹ hóa chính trị, như Walter Benjamin đă phân tích, khiến đám đông bị thôi miên, mà chủ nghĩa phát xít về sau đă biết triển khaị Trotski, rất tinh đời, trong cuốn Văn chương và Cách mạng, là người đầu tiên đă nhận thức, trong năm 1924, rằng chủ nghĩa vị lai được dân chúng Ư hâm mộ, đă dọn đường cho chủ nghĩa phát xít.

Bên kia sông, người ta cũng bắt đầu nhận thấy, dù với tiếc nuối, rằng những người đại diện cho phái tiền vệ Xơ Viết, những kẻ mà người ta, theo một thứ novlange (ngơn ngữ mới) kiểu Orwell, đă gọi họ là nhóm "Kom-Fut", hay Futuristes-Communistes, gồm nhà văn và nhà thơ, trong những năm ngay sau nội chiến, đă mở một cuộc vận động chống lại tất cả các thứ đă cũ, đă lỗi thời và tư sản. Người nổi danh nhất bọn, nhà thơ Maiakovski, trong bài thơ "150 000 000" của ông, viết năm 1919-1920, đúng lúc Breton cho ra đời chủ nghĩa siêu thực, đă ngợi ca sự trả thù bằng "lưỡi lê (của) súng browning và (của) bom" của các đám quần chúng đang chuyển ḿnh:

Hăy quên
bọn thi sĩ
tận tụy nh́n bầu trời để tỉ tê

Mi lăo rồi ư? Xử tử!
Và sọ người làm gạt tàn
Khi tuổi già đă được sự cuồng điên
     quét tan
     chúng ta sẽ hát ca cho thế giới
     một huyền thoại mới

Malévitch, nhà sáng lập chủ nghĩa Suprématisme, cũng sẽ viết:

"Triết lư của tôi: cứ mỗi 50 năm là ta phải hủy diệt thành phố cũ và làng mạc cũ, bài trừ việc giới hạn nghệ thuật, gạt bỏ t́nh yêu và sự chân thành trong nghệ thuật. Tuy thế, ta không nên vin vào bất cứ trường hợp nào để làm khô cạn cái nguồn sống của con người là chiến tranh" (9).

Những lời lẽ cuồng nộ ấy, xướng bởi các nhà thơ và các nhà họa sĩ, cũng đă chuẩn bị các năo trạng để chúng chấp nhận những cuộc tàn sát tập thể sắp tới của Tchéka và l'OGPU (10).

Hannah Arendt, từ năm 1949, vậy là chỉ sau chiến tranh một đỗi rất ngắn, đă phân tích hiện tượng trên như khi nó xuất hiện từ năm 1914: "Đă lộ diện rất sớm sự kiện rất đặc biệt là những kẻ có học thức cao thường hay bị lôi cuốn bởi những phong trào quần chúng, và, đại loại, một chủ nghĩa cá nhân tinh xảo không thể ngăn cản, mà đôi khi thực ra lại khiến cho sự quên ḿnh để ḥa nhập vào quần chúng càng thêm dễ. Sự kiện hiển nhiên này quá bất ngờ khiến người ta đă qui trách nhiệm cho đặc tính bệnh hoạn hay tâm trạng hư vô chủ nghĩa của giới trí thức hiện đại, một loại "tự khổ h́nh" (masochisme) tiêu biểu của các nhà trí thức, hoặc hơn nữa, sự đối nghịch giữa tinh thần và đà sống, mối "hiềm thù của tinh thần đối với cuộc đời". Tuy nhiên, các thức giả bị nhiều tai tiếng kia chỉ là thí dụ dễ trông thấy nhất và là phát ngôn viên minh bạch nhất của một hiện tượng tổng quát. Sự nguyên tử ḥa (atomisation) xă hội và chủ nghĩa cá nhân tột cùng thường đi trước những phong trào đại chúng, những phong trào này lôi cuốn những kẻ hoàn toàn vô tổ chức. Những kẻ tôn thờ chủ nghĩa cá nhân trọn vẹn đă luôn luôn chối từ việc chấp nhận những ràng buộc và những trách vụ đối với xă hội..."

Hăy giỏ lại các trang viết siêu thực: giọng điệu rác rửi cùng những lời chửi bới ("thơ tục", "bồi", "chó má", "đồ thối tha", "trí thức cứt", "da tanh") dành cho kẻ thù, bọn phản ngịch, lũ bội giáo là các nhà văn "tiểu tư sản", như đă t́m thấy trong Luận về bút pháp của Aragon, hay trong các tờ thư ngỏ. Chúng chẳng khác những chữ t́m thấy trong các mồi hỏa của những liên minh phát xít là bao, hay ở mép bên kia của quang phổ chính trị, mà người ta sẽ thấy ném về phía bọn "chó dại" trong các cuộc xử án ở Mác-cơ-va . Chúng là chữ kư của một thời kỳ.

Những người trẻ tuổi này, vừa may mắn thoát khỏi những cuộc tàn sát trong năm 1914, hẳn phải được "một quyền điêu tàn" ("un droit à la ruine"). Chí ít th́ đó là những ǵ mà André Gide đă vui vẻ viết gởii cho họ: "Làng mạc, giáo đường đă không được dung tha" th́ cớ chi Ngôn ngữ lại được "dung thứ"? (11)

Thế nhưng ở đây không phải cái tính "khả tổn thương" (vulnéré) của ngôn ngữ - văn phạm bị làm trật khớp của phái Zaoum vị lai và những chữ "thả lỏng" của các nhà thơ Nga và nhóm Dada - mà chính cái tính "gây thương tích" (vulnérant) của ngôn ngữ, của câu văn sát hại, của cái chữ sát sinh. Lời lẽ cực đoan và biệt tài mạ lị này, mà Gide sẽ là một trong những nạn nhân đầu tiên, năm 1928, qua vài trang viết cộc cằn và cuồng nộ trong Luận về bút pháp của Aragon, chúng có thể tự bào chữa cho vài sự quá mức chăng?

Điều bất ngờ hơn là khi người ta bắt gặp đó đây sự kỳ thị Do Thái ngấm ngầm nơi các nhà cách mạng trẻ ấỵ Ta phải nghĩ thế nào, về những lời lẽ sau đây, trong Thư cho các trường Bụt đăng trong Tuyên ngôn số 3 của Cách mạng Siêu thực, được rỉ tai là do Artaud viết, những lời lẽ công kích chung chung không phân biệt rơ ràng:

"[...] của ta bọn kư lục c̣n viết lách thêm một thời gian nữa, bọn kư giả c̣n tán gẫu, bọn phê b́nh gia c̣n lắp bắp, bọn Do Thái c̣n nhảy vào các khuôn thức bốc lột, bọn chính trị chính em c̣n khoa môi múa mép và bọn thẩm phán sát nhân c̣n che đậy các tội đại ác của chúng [...]. Hăy đến. Hăy cứu chúng tôi ra khỏi lũ ấu trùng này..."? (12)

Có thể đấy chỉ là bút pháp của một thời kỳ, là loại văn hùng biện cực đoan mà người ta đă thấy gần như khắp nơi, từ những liên minh phát xít tới những nhóm người chủ trương vô chính phủ. Dù sao đi nữa th́ lời kêu gọi giết người không che đậy, sự say sưa triệt hạ, sự trái lư lẽ và lăng mạn đen được xiễn dương, sự say mê những cuồng nhiệt ban sơ của những chủng tộc c̣n "tinh khiết" ở phương Đông, sự nương vào những huyền thoại mơ hồ và khát máu, những cơn mê kỳ thị Do Thái của Artaud, như người ta đă t́m thấy trong các tuyên ngôn, diễn từ, tuyên cáo, xỉ vả và truyền đơn siêu thực chẳng mấy khác biệt nhau . Nếu ta chịu khó và b́nh tĩnh đọc kỹ lại hết th́ chúng đều là những lời lẽ hung hăn sử dụng bởi những kẻ thích xúi giục giết người của một thời điểm.

Người ta có thể bảo đó chỉ là những lời bồng bột, vô hại của các chính trị gia c̣n non tuổi đời . Họ đều đă biết sự ghê rợn của chiến trường, và họ lại sắp phải chứng kiến cuộc chiến tranh Rip và cuộc đảo chính của Franco . Có thể là họ được trọn quyền phát biểu khơng kiềm chế nỗi tuyệt vọng và sự cuồng nộ của họ. có thể lắm: "Giới trí thức ưu tú, Hannah Arendt viết, không coi sự hủy diệt văn minh là một cái giá quá đắt phải trả cho niềm hân hoan được thấy sự hội nhập bằng vũ lực bởi những kẻ đă bị hất ra ngpài một cách quá bất cơng trong quá khứ".

Nếu nghĩ vậy th́ ta quên rằng André Breton đă quyết tâm kết nạp Cộng Đảng vào tháng Giêng năm 1927 khi một số đông trí thức, sáng suốt hơn, đă bắt đầu rút lui . Cuối năm 1923, Boris Souvarine, trong tập Kỷ yếu Cộng sản đă tường tŕnh về lập trường của Trotski, người đang tố cáo chế độ thư lại ngày càng gia tăng của Liên Xô . Tháng Hai 1924, Trotski đă nhiệt liệt cảnh cáo chế độ tập quyền và kỷ cương hà khắc của Đảng cộng sản (13). Ngoài Souvarine ra, c̣n có một cuộc chống Đảng được tổ chức quanh các nhà xă hội và các nhà duy Nga là Mayoux, Monatte, Pierre Pascal, Brice Parain, mặc dù rất gắn bó với nước Nga và xă hội chủ nghĩa, họ vẫn không bị lừa bởi tính cách đặc thù của chế độ mới . Thế mà đúng vào lúc giai cấp tiểu nông bị giải tán gây nạn đói lên tới hàng triệu người, lại chính là cái lúc mà các nhà thơ siêu thực quyết định dâng hiến Đảng cộng sản Nga sự "phục vụ" của họ, khi việc cộng sản hóa đang bước vào con đường sẽ đưa đến những cuộc thảm sát và thanh trừng.

Thực ra sự liên lụy của nhóm trí thức sành sỏi này có thể được giải thích bởi ước vọng mang tính đối chọi của Breton. Ước vọng ḿnh vừa là nhà thơ lớn của thời đại vừa là kẻ ngự trị trên nền Cộng ḥa Văn chương bằng quyền năng của trí tuệ. Nó có thể trở thành sự thực nếu Breton và đệ tử của ông được Đảng cộng sản công nhận là người đại diện độc nhất cho văn chương cách mạng.

"Ở thời điểm đó khơng ai có thể ngờ rằng nạn nhân thực sự của sự trớ trêu này không phải là giai cấp tư sản mà là giới trí thức ưu tú."

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG dịch

Trong cuốn Du surréalisme considéré dans ses rapports au totalitarisme et aux tables tournantes, Mille et une nuits. 2003.

_____________________________________

Ghi chú

Chủ nghĩa Siêu thực được sáng lập bởi những thanh niên bị cú sốc mạnh của Thế chiến thứ nhất đă biến chiến trường Verdun thành một ḷ sát sinh và một nấm mộ tập thể. Họ chống văn minh, tư bản, chống khoa học, kỹ nghệ đă sáng chế ra những khẩu đại bác sát nhân (nhưng họ quên những phát minh có ích lợi cho con người). Họ muốn quay về với thiên nhiên hoang dại, cảnh vật điêu tàn hoang phế (tranh Dalí), mộng mị (Freud), siêu h́nh, dị đoan (cầu cơ / tables tournantes), phương Đông huyền bí, châu Phi, Oxêani man rợ, v.v... Nhóm văn nghệ sĩ phản chiến ở Huế như Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Bửu Chỉ... có nhiều nét tương đồng với nhóm văn nghệ sĩ siêu thực ở Paris. Họ cũng muốn quay về một "quê hương thần thoại" thanh b́nh, cổ kính, nguyên thủy, đông Phương... dù họ sử dụng các chất liệu du nhập từ phương Tây để sáng tạo . Trịnh Công Sơn sáng tác những t́nh khúc ảo năo (mưa vẫn mưa rơi trên tầng tháp cổ, như cánh vạc về phía xa xôi...), rồi nhạc phản chiến, rồi nhạc "thiền".

Giới trí thức Pháp tả khuynh mặc dù biết rơ về goulag và thanh trừng ở các nước cộng sản trước và sau chiến tranh lạnh, vẫn khư khư bênh Cộng và chống Mỹ. Sartre đă tuyên bố: Đứa nào chống cộng là quân chó đẻ ... Các nhà cách mạng đă giết quá ít... (Tout anti-communiste est un chien... Les révolutionnaires n'ont pas asssez tué...).

Tháng Giêng 1975, khi Soljenitsyne từ Mỹ ghé sang Paris, ông bị giới trí thức Saint-Germainđes-Prés (Sartre, de Beauvoir, Jean Baudrillard, Pierre Bourdieu, Régis Debray, Philippe Sollers...) lơ là và chống đối, v́ goulag đối với họ chỉ là cái gai nhỏ của thiên đường xă hội chủ nghĩa mà Soljenitsyne là con sâu làm sầu nồi canh. Một kư giả "xă hội" đă "kư họa" một bức chân dung của nhà văn Nga như sau: "Có thể của nhân vật này gây cho ta sự lo ngại và bất an. Dẫu có được cạo rửa nhẵn sạch th́ nó vẫn phơi bày cái phần đáng ngờ của một tên bần nông (moujik) y như trong huyền thoại, với những vết nhăn nheo hằn sâu trên khuôn mặt khiến nó có diện mạo của khỉ, những con khỉ buồn bă nh́n những người qua lại dạo chơi trong ngày chủ nhật" (l' Unité, 24 tháng Giêng, 1975, do Jean Sévillia trích dẫn trong cuốn Le terrorisme intellectuel / Trí thức khủng bố, Éditions Perrin, 2004).

Thật ra, chống Mỹ là một truyền thống Pháp đă có từ hậu bán thế kỷ 18, do các nhà thông thái, triết gia và "văn nhân" Khai . Sáng chưa từng đặt chân lên châu Mỹ, như Buffon, Voltaire, Raynal, Cornelius de Pauw... chủ xướng. Thoạt tiên là trên b́nh diện địa lư và thiên nhiên (toàn châu Mỹ chỉ là một miền đất "đồng dạng, nghèo nàn, xám ngắt") trước khi chuyển sang địa hạt triết lư và chính trị để chống đối Hoa Kỳ cho đến nay .

1. Carl Einstein (1885-1940), nhà văn, nhà thơ và nhà viết sử nghệ thuật gốc Berlin, bạn thân của nhà buôn bán tranh Daniel-Henri Kahnweiler v́ họ chia sẻ mối đam mê chung là hội họa lập thể. Như Walter Benjamin người bạn đồng hương của ông, ông đă quyên sinh vào ngày 5 tháng Bảy 1940, để tránh trước lính Gestapo .

2. Die Fabrikation der Fiktionen, Carl Einstein, Sibylle Penkert biên tập, Rohwolt, Reinbeck bei Hamburg, 1973.

3. Buổi diễn thuyết tại Ateneo ở Barcelone, 17 tháng 11, 1922.

4. Trong tạp chí Variétés, Bruxelles.

5. Từ một bài diễn văn của Louis Aragon đọc tại một kư túc xá sinh viên ở Madrid ngày 18 tháng Tư 1925, do Maurice Nadeau trích dẫn trong cuốn Histoire du surréalisme, Paris, Le Seuil 1945, tr. 115.

6. La Révolution surréaliste (Cách mạng siêu thực), số 4.

7. Trong "Mô tả một cuộc cách mạng sắp tới".

8. La Révolution surréaliste, số 5.

9. Trích dẫn từ cuốn Malévitch, Ecrits, Andrée Robel-Chicourel chuyễn ngữ, nxb Champ Libre, Paris 1975, tr. 171.

10. Tchéka và OGPU là tiền thân của KGB.

11. Do Francois Nourrissier trích dẫn trong cuốn Un Siècle NRF (Một thế kỷ NRF), Gallimard, Paris 2000, tr. 113.

12. "Lettre aux écoles du Bouđha" (Thư cho các trường Bu .t) trong La Révolution surréaliste, số 3.

13. Léon Trotski (hay Leon Trotsky viết theo tiếng Anh, gốc Do Thái, sinh ngày 26 tháng Mười 1879 tại miền Nam Ukraine, bị ám sát năm 1940 ở Mexico, tên thật Lev Davidovich Bronstein). Tuy chống Staline, nhưng Trotski cũng là một tên khát máu chẳng thua . Trong cuộc nội chiến Nga (1919-1922), Trotski đă ra lệnh cho Hồng Quân tàn sát (vợ con họ bị bắt làm con tin để làm áp lực cho họ tuân lệnh) ít nhất là 20.000 lính thủy (lúc đầu ủng hộ cuộc cách mạng vơ sản) tại căn cứ hải quân Kronstadt khi họ biểu t́nh đ̣i hỏi một chính quyền dân chủ. Năm 1938 Breton có gặp Trotski tại nhà của cặp vợ chồng họa sĩ Rivera Diego - Frida Kahlo ở Mexicọ

Độc giả tiếng Pháp có thể đọc thêm Le terrorisme intellectuel de 1945 à nos jours (Trí thức khủng bố từ năm 1945 đến nay) Jean Sévillia, Éditions Perrin 2000; Les maitres censeurs (Các bậc thầy kiểm duyệt) Élizabeth Lévy, nxb Jean-Claude Lattès 2002; La grande parade (Cuộc diễn hành lớn [của phái tả]), Jean-Francois Revel, Plon 2000; L'obsession anti-américaine (Nỗi ám ảnh chống Mỹ) Jean-Francois Revel, Plon 2002; L'enneni américain (Mỹ keỵ thù của chúng ta) Philippe Roger, Éditions du Seuil 2002, v.v...

Tựa đề bản dịch này là của người dịch, các tiểu đề th́ do chính tác giả. "Đôi lời" là phần dẫn nhập cho cuốn tiểu luận (tr. 7-9), "Chủ nghĩa Siêu thực và phương Đông" (tr. 117-128) trích từ chương 5 có cái tựa đề chung là "Thẩm phán và Nạn Nhân" (tr.111-140).


Home