TU TỪ
Trịnh Y Thư
Khế Iêm dẫn đọc



Khế Iêm và nhiều nhà thơ khác gần đây nhất quyết chủ trương loại bỏ tu từ pháp trong thơ. Nhưng theo tôi, hạn chế hoặc gạt bỏ tu từ ra khỏi người làm thơ giống như bắt người làm nhạc không được biến ảo giai điệu của ḿnh nữa. Tôi thấy tôi vẫn lưu luyến tṛ chơi chữ nghĩa, vẫn thấy cái thú của đọc thơ khi bất chợt bắt gặp cái tài t́nh của những con chữ tri kỉ quấn quưt bên nhau trong bài thơ hay. Nó làm bật lên cái tài hoa của thao tác nghệ thuật độc đáo riêng của người làm thơ. Tôi thấy bạn đang nhíu mày, không đồng ư. Vâng, tôi sẵn sàng nghe bạn phản bác đây.

Trả lời của Khế Iêm

Thật ra, khi thưởng thức những tác phẩm cổ điển và Tiền chiến, Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du hay những bài thơ của Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Bích Khê... chẳng hạn, mà không thấy được sự tài t́nh trong cách dùng chữ, cái “biến ảo”, cái “tài hoa” của chữ th́ làm sao thưởng thức được cái hay của thơ họ. Điều này th́ chẳng ai bắt bẻ được. Ư kiến của anh Trịnh Y Thư dĩ nhiên là đúng, nhưng chỉ đúng với thơ cổ điển, thơ Mới Tiền chiến thôi. Đến thơ tự do th́ cách thưởng ngoạn thơ như vậy cũng chẳng c̣n áp dụng được, v́ thơ tự do dùng cảm xúc mạnh của chữ chứ không c̣n theo đúng nghệ thuật tu từ của thơ cổ điển và Tiền chiến nữa. Để làm rơ vài điểm về tu từ, tôi xin trả lời như sau:

Khi một người làm thơ, phải chọn chữ chọn lời, bỏ chữ này thay bằng chữ khác, có khi bỏ cả câu, một đoạn hay cả bài thơ. Và khi người dịch, phải chọn chữ cho đúng, chính xác th́ đó chẳng phải tu từ sao? Tu từ, theo phương Tây, từ thời Phục Hưng, mỗi thế kỷ đều có những nhà lư thuyết đưa ra một quan niệm mới, họ không bị vướng vào thuật ngữ hay những định nghĩa cũ. Tu từ là một vấn đề lớn, đẩy tới sự am hiểu rộng răi hơn, c̣n có nghĩa là cách làm (một công việc, một bài thơ) chứ không phải chỉ là tṛ chơi văn giỡn chữ. Như vậy, nghệ thuật cú pháp chẳng phải là một h́nh thức tu từ ư? Tân h́nh thức chỉ phá bỏ tinh thần nô lệ tu từ, nh́n tu từ theo cách mới, phù hợp với thời đại, v́ mỗi thời có một quan niệm tu từ khác nhau, tân tu từ (new rhetoric) chẳng hạn. Không thiếu những bài thơ tân h́nh thức, tác giả chọn chữ chọn lời rất kỹ, chỉ không lợi dụng chữ để lôi kéo sự chú tâm của người đọc mà thôi. Phái H́nh Tượng đầu thế kỷ 20, khi thay thể luật bằng nghệ thuật cú pháp, chẳng chủ trương “Dùng ngôn ngữ thông thường với chữ chính xác” đó sao. Thật ra, tu từ cũng chỉ là một yếu tố trong thơ, cũng như một món ăn muốn ngon, phải nêm nếm nhiều loại gia vị khác nhau. Nghệ thuật nấu là nêm vừa đủ, không quá tay, nếu không th́ sao gọi là nghệ thuật được. Một món ăn chỉ có một loại gia vị th́ làm sao cho ngon. Nghệ thuật thơ là sự tổng hợp nhiều yếu tố trong đó có tu từ. Chúng ta có tu từ điển tích của thơ cổ điển, tu từ văn hoa bóng bảy của Tiền chiến, tu từ bí hiểm khó hiểu của thơ tự do, và bây giờ có lẽ là tu từ đời thường. Tu từ đời thường ăn khớp với quan niệm tân tu từ, đạt tới chỗ cảm thông tối đa giữa con người trong một thế giới đa văn hóa. Dùng chữ đơn giản chính xác, mang những câu nói b́nh thường vào thơ và làm thành nghệ thuật để nó không c̣n là câu nói b́nh thường, mà là thơ. Chắc không phải dễ, mà cần có một tài thơ lớn nữa là khác.

Tôi không nghĩ là tṛ chơi chữ lại là yếu tố chính tạo nên giai điệu cho thơ. Thơ tân h́nh thức vẫn dựa vào sự nhịp nhàng của câu chữ để tạo giai điệu (melody), và dùng thêm kỹ thuật lập lại thay thế vần, để tạo nên nhịp điệu cho thơ (rhythm) v́ thơ Việt gần như rất ít nhịp điệu. Như vậy tân h́nh thức đang hồi phục nhạc tính và những yếu tố nghệ thuật đă mất cho thơ. Nhiều khi chỉ là những chữ đơn giản dễ hiểu, với tài của người làm thơ vẫn làm cho bài thơ hay, lôi cuốn (có khi c̣n khó hơn là nhờ vào những chữ hay, chữ lạ hay tṛ chơi chữ). Nhưng nói cho cùng, mỗi thể loại thơ có một lớp người đọc khác nhau, một thể thơ mới cần có một lớp người đọc mới. Tôi luôn luôn tự cảnh giác, khi đọc một bài thơ cũ thấy hay, vần điệu và tự do chẳng hạn, coi chừng cách cảm nhận về thơ của ḿnh đă lỗi thời. Bởi v́ bên trong chúng ta vốn dĩ đă có sẵn những tiêu chuẩn, định kiến cảm nhận thơ từ trước, ngăn cản chúng ta phiêu lưu tới những miền đất mới. Trong bài “Luận về con người” (Essay on Man), Ernst Cassirer, cho rằng: “Poetry, if as it is the enjoyment it is not the enjoyment of thing, but the enjoyment of form.” (Thơ nếu là niềm vui th́ đó không phải là niềm vui với sự vật, mà là niềm vui với h́nh thức). Chữ Form ở đây có thể hiểu là h́nh thức theo thơ tự do, thể thơ theo thơ truyền thống, nhưng đúng hơn phải hiểu là nghệ thuật thơ. Về điểm này cần phải viết một bài tiểu luận riêng.

Tôi cho rằng, thơ mang đến cho người đọc niềm vui v́ thế ai muốn đọc loại nào th́ tùy ư, miễn là thấy hay. Thơ Ngôn ngữ Hoa kỳ dựa vào lư thuyết hậu cấu trúc, những nhà thơ Tân h́nh thức phủ nhận lư thuyết. Nhưng thi pháp là cách làm thơ th́ ai cũng phải học mới làm thơ được v́ đó là luật tắc và kỹ thuật căn bản, từ đó phát sinh những yếu tố nghệ thuật thơ. Để làm giảm nhẹ không khí có vẻ tranh luận, tôi xin ghi lại bài thơ của một nhà thơ tài danh, từng nhận là có cả một bồ chữ, lại ngán ngẩm cho tṛ “nhai văn nhá chữ”. Bài thơ sau đây của nhà thơ Cao Bá Quát làm khi đi sứ với Đào Chí Hiếu vào năm 1850:


Đi Sứ

Nhai văn nhá chữ buồn ta
Con giun c̣n biết đâu là cao sâu
Tân Ba từ vượt con tàu
Mới hay vũ trụ một bầu bao la
Giật ḿnh khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là tṛ chơi
Không đi khắp bốn phương trời
Vùi đầu án sách uổng đời làm trai.

NTV sao lục


Home