LIVES OF THE GREAT COMPOSERS
ĐỜI SỐNG NHỮNG NHÀ VIẾT NHẠC ĐẠI TÀI
Dana Gioia
Trịnh Y Thư dịch
Khế Iêm trả lời và b́nh giải

LIVES OF THE GREAT COMPOSERS

Herr Bruckner often wandered into church
to join the mourners at a funeral.
The relatives of Berlioz were horrified.
“Such harmony,” quoth Shakespeare, “is in
immortal souls. . . We cannot hear it.” But
the radio is playing, and outside
rain splashes to the pavement. Now and then
the broadcast fails. On nights like these Schumann
would watch the lightning streak his windowpanes.

Outside the rain is falling on the pavement.
A scrap of paper tumbles down the street.
On rainy evenings Schumann jotted down
his melodies on windowpanes, “Such harmony!
We cannot hear it.” The radio goes off and on.
At the rehearsal Gustav Holst exclaimed,
“I'm sick of music, especially my own!”
The relatives of Berlioz were horrified.
Haydn's wife used music to line pastry pans.

On rainy nights the ghost of Mendelssohn
brought melodies for Schumann to compose.
“Such harmony is in immortal souls. . .
We cannot hear it.” One could suppose
Herr Bruckner would have smiled. At Tergensee
the peasants stood to hear young Paganini play,
but here there's lightning, and the thunder rolls.
The radio goes off and on. The rain
falls to the pavement like applause.

A scrap of paper tumbles down the street.
On rainy evenings Schumann would look out
and scribble on the windows of his cell.
“Such harmony.” Cars splash out in the rain.
The relatives of Berlioz were horrified
to see the horse break from the cortege
and gallop with his casket to the grave.
Liszt wept to hear young Paganini play.
Haydn's wife used music to line pastry pans.

Dana Gioia

ĐỜI SỐNG NHỮNG NHÀ VIẾT NHẠC ĐẠI TÀI

Cụ Bruckner thường thơ thẩn bước vào thánh đường
nhập bọn những người đưa đám.
Thân nhân Berlioz thất kinh.
“Hoà âm như vậy,” Shakespeare viết, “chỉ có nơi
những linh hồn bất tử . . . Chúng ta nghe không ra.” Nhưng
tiếng nhạc từ máy thu thanh, và bên ngoài
hạt mưa quất lên hè phố. Thi thoảng
làn sóng điện tắt ngúm. Những đêm như vậy Schumann
nh́n ánh chớp vạch lên kính cửa sổ.

Bên ngoài mưa rơi trên hè phố.
Mảnh giấy vụn tao tác cuối đường.
Những tối trời mưa Schumann ghi vội
giai điệu lên kính cửa sổ, “Hoà âm như vậy!
Chúng ta nghe không ra.” Máy thu thanh lúc nghe lúc không.
Tại buổi dợt nhạc Gustav Holst kêu lên,
“Tôi ớn nhạc quá rồi, nhất là nhạc của chính tôi!”
Thân nhân Berlioz thất kinh.
Vợ Haydn lấy nhạc lót chảo bánh.

Những đêm mưa bóng ma Mendelssohn
đem giai điệu đến cho Schumann làm nhạc.
“Hoà âm như vậy chỉ có nơi những linh hồn bất tử . . .
Chúng ta nghe không ra.” Chắc
Cụ Bruckner phải mỉm cười. Tại Tergensee
dân làng đứng nghe Paganini trẻ tuổi chơi đàn,
nhưng có tia chớp, và sấm sét rung chuyển.
Máy thu thanh lúc nghe lúc không. Mưa
rơi lên hè phố như tiếng vỗ tay.

Mảnh giấy vụn tao tác cuối đường.
Những đêm mưa Schumann nh́n ra ngoài
và viết nguệch ngoạc lên cửa sổ gian pḥng kín.
“Hoà âm như vậy!” Xe bắn nước tung toé trong mưa.
Thân nhân Berlioz thất kinh
khi thấy bầy ngựa bứt khỏi đoàn người
và tế chạy kéo theo quan tài ông xuống huyệt mộ.
Liszt khóc khi nghe Paganini trẻ tuổi chơi đàn.
Vợ Haydn lấy nhạc lót chảo bánh.

Trịnh Y Thư dịch

— Trịnh Y Thư dịch từ “Rebel Angels: 25 Poets of The New Formalism, nxb Story Line Press, 1996.”

Đôi điều về bản dịch của Trịnh Y Thư: Tôi đặc biệt yêu thích bài thơ này của Dana Gioia. Trào lộng nhưng không kém phần trữ t́nh. Ngay từ câu thơ đầu Gioia đă mở ra không khí đùa cợt bông phèng và gọi Bruckner là Herr. Ở đây tôi dịch là “Cụ” với chủ đích thể hiện tinh thần trào lộng đó, thay v́ thông thường phải dịch là “Ông.” Bruckner là tác giả những khúc Giao hưởng vĩ đại, ông đẩy Lăng mạn chủ nghĩa đến bến bờ sâu thẳm nhất; và thật thú vị khi Gioia vẽ h́nh ảnh ông già lơ đễnh lững thững đi vào thánh đường trong lúc người ta đang cử hành đám tang một người lạ, thản nhiên ngồi xuống với những người đưa đám không quen biết. Những thi ảnh về các thiên tài âm nhạc khác đều tương tự, những biếm hoạ buồn cười, vui vui. Ngoại trừ Schumann. Như chúng ta biết Schumann bị thác loạn thần kinh khi về già mặc dù thời tuổi trẻ ông có mối t́nh thật đẹp với nàng Clara. H́nh ảnh ông đứng trước cửa sổ gian pḥng kín mắt nh́n trừng trừng ra khoảng không gian sấm chớp băo bùng bên ngoài, lấy ngón tay vẽ nguệch ngoạc một giai điệu nào đó lên mặt kính cửa sổ đột nhiên khiến chúng ta thấy dấy lên nỗi bi thiết chứ không c̣n nét trào lộng khôi hài nào nữa! Schumann được nhắc đến hai lần trong bài thơ. Ở đoạn sau, từ cell trong bản tiếng Anh gây xúc động mạnh; nó gợi h́nh ảnh giam cầm, tù ngục. Tâm thức tù ngục. Giả như Gioia dùng chữ room th́ chưa chắc chúng ta đă thấy chua xót như vậy. Rất tiếc ở đây tôi chỉ có thể dịch là “gian pḥng kín.”

Xen lẫn những thi ảnh ngộ nghĩnh đó là tiếng nhạc phát ra từ cái máy thu thanh. Gioia tiếp tục đùa giỡn. Nhạc của những nhà soạn nhạc đại tài, đỉnh cao văn hoá Tây phương, phát ra từ cái máy thu thanh rẻ tiền, tiếng được tiếng mất trong một đêm mưa!

Bài thơ không ít những thi ảnh trữ t́nh. Hạt mưa quất lên hè phố. Mảnh giấy vụn bị gió cuốn bay bay về cuối đường. Bạn có thể bĩu môi, chê bai những thi ảnh này là sáo ṃn; nhưng theo tôi, Gioia dụng ư đưa chúng vào bài thơ để tạo tương phản--đối điểm th́ đúng hơn—giữa hai thi ảnh trào lộng và trữ t́nh. Gioia tận dụng thủ pháp đối điểm trong bài thơ như J.S. Bach tận dụng thủ pháp này trong âm nhạc. Ngoài ra, xin để ư từ quoth (câu thứ tư) trong bài thơ. Quoth là một từ cổ, và giữa bài thơ Tân H́nh thức rất mới, từ này nằm lẻ loi như giữa bức tranh trừu tượng rối mù người hoạ sĩ th́nh ĺnh ném lên một mô típ hiền lành, chân phương. Đó là lí do v́ sao khi dịch từ này, tôi dùng chữ “viết” như trong “Khổng tử viết.” Dù vậy nó chẳng thể nào có tác dụng độc đáo như trong bản tiếng Anh.

Thi ảnh “Mảnh giấy vụn” xuất hiện hai lần trong bài thơ. Hiển nhiên nó hàm chứa trọng lực nào đó. Sự hoang lạnh. Niềm cô độc. Vâng, chẳng có ǵ ghê gớm lắm đâu, tôi nghĩ thế. Và tôi chọn từ “tao tác” để dịch từ tumble không ngoài chủ đích diễn tả cảm xúc đó. (Thoạt đầu là táo tác, nhưng Nguyễn Tiến Văn sửa lại là tao tác cho thích hợp với tâm cảnh bài thơ hơn.) Với tôi, chọn chữ trong thơ như vậy vẫn là h́nh thái tu từ gây nhiều thú vị cho người đọc thơ. Nhiều nhà thơ khác gần đây nhất quyết chủ trương loại bỏ tu từ pháp trong thơ. Nhưng theo tôi, hạn chế hoặc gạt bỏ tu từ ra khỏi người làm thơ giống như bắt người làm nhạc không được biến ảo giai điệu của ḿnh nữa. Tôi thấy tôi vẫn lưu luyến tṛ chơi chữ nghĩa, vẫn thấy cái thú của đọc thơ khi bất chợt bắt gặp cái tài t́nh của những con chữ tri kỉ quấn quưt bên nhau trong bài thơ hay. Nó làm bật lên cái tài hoa của thao tác nghệ thuật độc đáo của người làm thơ.

Trên đây chỉ là những nhận xét hết sức sơ lược và chủ quan của người dịch không ngoài mục đích t́m kiếm sự hoàn chỉnh cho bản dịch, và quan trọng hơn, học hỏi, t́m ṭi nghệ thuật. Trong lúc dịch, qua sự giúp đỡ của hai bạn văn Khế Iêm và Nguyễn Tiến Văn, tôi biết thêm về câu nói của Shakespeare, nhờ vậy, bản tiếng Việt đỡ gượng gạo và tương đối chuẩn xác. Lời bàn chỉ quanh quẩn ở tầng thứ nhất của bài thơ—tức là tầng chữ nghĩa—và bài thơ của Gioia rất xứng đáng cho chúng ta bàn luận thêm. Bạn nghĩ sao?

Đôi điều về Dana Gioia: Sinh năm 1950, tác giả hai tập thơ và nhiều tiểu luận về thơ. Thường xuyên viết cho The New Yorker, The Hudson Review và các quư san văn chương khác. Nghề nghiệp chính là Tổng giám đốc Thương vụ, viết lách chỉ là nghiệp dư. Hiện sinh sống cùng gia đ́nh ở California.

Khế Iêm trả lời và b́nh giải

Phần trả lời về tu từ pháp, tôi dời qua phần Góp Ư v́ không liên quan tới bài thơ của Dana Gioia. Anh Trịnh Y Thư khi chọn dịch bài này, chắc hẳn muốn chứng minh một điều, thơ chỉ là một tṛ chơi chữ. Điều này rất rơ khi anh dùng từ tao tác để dịch một từ rất b́nh thường trong nguyên tác tumble (chao liệng). Từ đó anh ngụ ư rằng tác giả cũng chơi chữ khi dùng chữ “quoth”. Anh thú vị v́ cách chơi chữ của tác giả, c̣n tất cả chỉ là không khí bông phèng, trào lộng, làm người đọc dễ có cảm giác, đời sống các vị thiên tài và cả đám đông vô danh kia chỉ là những tên hề mua vui ngoài đường phố. Có lẽ anh đang đọc một bài thơ tân h́nh thức bằng cách đọc của thơ cổ điển và Tiền chiến. Tôi sẽ nói thêm ở mục Góp Ư.

Bài thơ của Dana Gioia, nói về đời sống của các nhạc sĩ thiên tài, nên lấy ngay những chi tiết trong đời sống thực của họ để làm thành chất liệu bài thơ. Ngay chữ đầu tác giả dùng chữ “Herr”, tiếng Đức có nghĩa là “Ngài” (tương đương với “Mr” trong tiếng Anh) để tỏ sự tôn kính, đồng thời báo hiệu không khí khác thường của bài thơ. Anton Bruckner sinh trưởng trong một gia đ́nh âm nhạc nhiệt thành với giáo hội La mă. Là người chơi đại phong cầm và sáng tác nhạc cho nhà thờ, âm nhạc cũng thể hiện niềm tin Thiên chúa nơi ông, lắng sâu vào im lặng, tuyệt đối im lặng, vươn lên tới cái toàn thể để vượt khỏi những giới hạn của hiện thực trần gian. V́ vậy ông thường tham dự những đám tang trong nhà thờ là điều tự nhiên, nhưng ở đây nói lên thái độ an nhiên, b́nh thản trước mọi biến cố trong cuộc đời. Đối với một người có niềm tin tôn giáo, chết chẳng qua là cởi bỏ thân xác để trở về nơi đất Chúa. Khác hẳn với thái độ của đám đông, kinh hăi trước cái chết. “Thân nhân của Berlioz thất kinh”, không phải trước cái chết của Berlioz mà là trước cái chết của chính họ. Bởi v́ trong đời, Berlioz phải chứng kiến cái chết của người vợ đầu Harriet Smithson, vợ sau Mario Recio, và đứa con tên Louis mất v́ bệnh sốt vàng da vào lúc 33 tuổi, đồng thời mất luôn cả t́nh bạn với Liszt và Wagner.

Tới câu tiếp theo, tác giả trích một câu của Shakespeare, trong vở kịch “Người bán hàng ở thành Viên” (The Merchant of Venice) trong đó nhân vật Lorenzo nói với Jessica:


“Such harmony is in immortal souls;
But whilst this muddy vesture of decay
Doth grossly close it in, we cannot hear it.”

“Ḥa âm như thế ở nơi những linh hồn bất tử;
Nhưng trong lúc thân xác bùn đất của mục ră
Bao lấy nó một cách thô thiển, chúng ta nghe không ra.”

Từ rất lâu, linh hồn được so sánh như một v́ sao hay thiên thể, với một thiên thần bay quanh. Sự chuyển động của những thiên thể tạo nên âm nhạc của vũ trụ mà chỉ có thiên thần nghe được. Như vậy chúng ta, bao gồm cả thiên tài ở cái cơi người ta này, chỉ nghe ra khi nào cái thân xác bùn đất ấy mục ră hoặc là con người sống trong niềm tin Chúa.

Chữ “quoth” là tiếng Anh thời Phục hưng, đi liền với câu nói của Shakespeare, có nghĩa là “nói” (said, spoke, dùng ở thời quá khứ, ngôi thứ nhất và ba), theo cách viết tiếng Anh ở thời đó, đi trước chủ từ, không phải tác giả tự chế ra. Dịch chính xác là “dẫn”, dẫn câu nói nhân vật của Shakespeare trong một vở kịch, v́ tác giả muốn dùng chữ và cách viết b́nh thường, tự nhiên đúng với thời đại của Shakespeare. Nếu tác giả dùng chữ “said” hay “spoke” mới đáng ngạc nhiên (chẳng hạn: Shakespeare said). Nhưng tại sao lại có Shakespeare vào đây trong lúc đang nói về đời sống của những nhạc sĩ thiên tài, thời Lăng mạn thế kỷ 19. Thời Phục hưng quay về những giá trị cổ đại La-Hy, trong khi tân h́nh thức quay về truyền thống để hồi phục nghệ thuật thơ, nên chữ “quoth” có tác dụng như một cái trục, và câu của Shakespeare như một ṿng quay, kéo theo những câu chữ và h́nh ảnh lập lại khác thành những vệt quay, thể hiện sự ḥa điệu giữa cái sống và chết, giữa cuộc đời và sáng tác. Và đằng sau ṿng quay đó lại vẽ nên một ṿng quay mờ nhạt khác, nhạc của thiên tài là trục trung gian giữa vũ điệu của thiên thần và những âm thanh hỗn tạp của đời thường. Như vậy chữ “quoth” không phải là chữ “nằm lẻ loi như giữa bức tranh trừu tượng rối mù người hoạ sĩ th́nh ĺnh ném lên một mô típ hiền lành, chân phương.” Câu nói của Shakespeare đều lập lại trong 4 đoạn thơ và ở mỗi đoạn đều mất đi một số chữ, cho chúng ta thấy, ṿng quay chuyển động đều đều, là nhịp điệu tưởng tượng của thời gian. Nếu thơ không vần của William Wordsworth, với những câu rất dài, âm điệu đều đặn iambic pentameter, nghe như một ḍng sông miên man, qua đó làm bật lên trong trí tưởng những t́nh tiết và h́nh ảnh th́ trong bài thơ này, cũng viết theo iambic pentameter, câu ngắn làm cho sự ḥa điệu không phải lúc nào cũng suông sẻ. Và như vậy, với nhịp điệu iambic và nhịp điệu tưởng tượng của thời gian làm nền, cho ta biết cách đọc bài thơ.

Tiếng mưa rơi biểu trưng cho âm thanh tự nhiên, huyên náo, và đêm mưa là h́nh ảnh lăng mạn của cuộc đời. Tiếng nhạc của những bậc thiên tài phát ra từ máy thu thanh lẫn với âm thanh ngoài đời, có nghĩa là mọi tác phẩm nghệ thuật đều xuất phát từ đời sống và trở về với đời sống. Đời sống th́ lúc nào cũng mới mẻ, và mọi tác phẩm nghệ thuật phải đổi thay để kịp với thời đại mỗi lúc mỗi khác. Tiếng nhạc dần dần tan đi, rồi yên ắng, chấm dứt và khởi đầu một sáng tác. Chữ “fails” ở đây cũng có nghĩa là “thất bại”, nếu người nghệ sĩ không tiếp cận được với công chúng, và ngược lại công chúng sẽ không thể nghe ra nếu cứ bị khuấy động bởi những tạp âm. V́ vậy cần có những khoảnh khắc im lặng. Im lặng là giây phút để thưởng ngoạn và bật ra ánh sáng. Những đêm mưa chính là chất thơ mộng nuôi dưỡng cảm xúc, ấp ủ sáng tác làm tia chớp lóe lên. Nếu câu nói của Shakespeare tạo thành ṿng quay, “thân nhân của Berlioz” là đám đông, th́ Shumann tiêu biểu cho những rung động của người nghệ sĩ, xuất hiện trong cả 4 đoạn thơ. Schumann bị bệnh trầm cảm (depressive disorder) vào năm 23 tuổi v́ điều trị bằng thuốc có chất thủy ngân, gặp t́nh yêu với Clara vào năm 25 tuổi nhưng trục trặc cho đến 30 tuổi mới thành hôn. Những tác phẩm của ông nhờ vào sự giúp đỡ rất nhiều của Clara. Nhưng bệnh t́nh càng lúc càng nặng cho đến 2 năm cuối đời ông phải vào trong dưỡng trí viện. Schumann biểu hiện cho những cảm xúc xuyên suốt của người nghệ sĩ, lúc nào cũng như dây đàn sẵn sàng rung lên khi chạm với thực tại đời sống. Ô kính cửa sổ như bức vách trong suốt, vừa ngăn cách vừa ḥa trộn giữa tưởng tượng và đời thực.

Một thời sáng tạo, như bên ngoài buổi chiều, mưa triền miên rơi, và nhịp đời vẫn cứ chảy trôi. Những mảnh giấy chao liệng cuối đường, như sáng tác luôn luôn phải chan ḥa với đời sống, và người nghệ sĩ phải vượt qua bản ngă, ḥa nhập với tự nhiên, hoặc rồi nó cũng phải mất đi với thời gian. Khoảng cách giữa đêm mưa và chiều mưa, lúc đứt đoạn lúc bừng cháy, là thời gian hoàn tất một sáng tác, và Schumann ghi xuống những giai điệu mới. Nhưng nếu sáng tác không tới được với đám đông, th́ ngay chính người nghệ sĩ cũng chán nhạc của ḿnh. Để nhấn mạnh, tác giả dẫn Gustav Holst, một tài năng có thể chất yếu ớt, bị bệnh suyển, mê say triết học Hindu và văn học Sanskrit Ấn độ, tới 40 tuổi mới được công nhận, với tác phẩm The Planets (1916) và Hymn to Jesus (1917). Trong đời ông gặp nhiều thất bại, sáng tác rất nhiều bài hát hay nhưng luôn luôn bị từ chối bởi các nhà xuất bản. Một lần tác phẩm The Perfect Fool của ông được nhà hát The British National Opera tŕnh diễn thất bại v́ câu truyện khó hiểu, khán giả đ̣i tiền lại. Thơ cũng vậy, nếu quá trừu tượng, không liên hệ ǵ tới cuộc đời xung quanh, người đọc sẽ quay mặt với thơ. “Thân nhân Berlioz thất kinh” chỉ đám đông thất vọng, không cảm thông được với sáng tác. Phản ứng của họ chẳng khác nào Maria, vợ của nhạc sĩ tài danh Haydn. Haydn yêu Therese nhưng không được đáp lại và Therese đi tu. Haydn cưới người em của Therese, tên Maria Anna Keller. Maria không có con, và coi thường tài năng của chồng. Bà xao lăng việc nội trợ và luôn luôn t́m cách chọc giận chồng, thường dùng những sáng tác của chồng lót hộp bánh (cake tins) hay dĩa bánh trên bàn ăn, hoặc có khi xoắn lại như một dải băng cuộn tóc.

Một thời điên rồ, nếu đêm mưa trước kia là thời khắc thai nghén, tiếp nhận những hứng khởi từ đời sống, th́ lúc này Schumann đă bắt đầu thác loạn và nghe những tiếng nói cùng âm thanh lạ trong đầu, một loại thính giác ảo tưởng. Tác giả nhắc tới Mendelssohn v́ trong trạng thái dần dần mất trí, c̣n lại trong Schumann có lẽ chỉ có Mendelssohn v́ ông cùng là người Đức, và từng là giám đốc nơi Schumann dạy nhạc. Mendelssohn mất trước đó vài năm. Bruckner mỉm cười, đóng vai nhân chứng của ṿng quay giữa cái sống và cái chết mà Schumann đang đối diện. Nhưng không ai nhận rơ ông cười hay không v́ Bruckner chỉ là cái phông mờ nhạt, như một ô cửa kính tâm linh trong phân cách và ḥa nhập hiện tại với quá khứ. H́nh ảnh tương phản giữa âm thanh của những hồn ma và giai điệu đời sống, thể hiện qua việc đám đông đứng nghe ḥa nhạc, cuồng nhiệt như sấm chớp. “Paganini trẻ tuổi” ở đây muốn nói tới chi tiết Paganini thành công rất sớm, hết thành công này tới thành công khác, tŕnh diễn lần đầu lúc mới 11 tuổi và sau 30 tuổi rất hiếm khi c̣n tŕnh diễn. Ông là một thiên tài tới mức độ mỗi lần tŕnh diễn đều làm điên cuồng khán giả, như có ma quỉ ám vào. Chẳng khác nào Schumann đang nhập vào hồn ma Mendelssohn. Nhưng h́nh ảnh Paganini tŕnh diễn trước dân làng trong buổi ḥa nhạc đầy kích động ấy lại là quá khứ, so với Schumann là thời hiện tại, v́ Paganini đă ra người thiên cổ trước đó rất lâu. Như vậy thật sự hai h́nh ảnh đảo ngược, lẫn lộn giữa chết và sống, cái sống lại trước cái chết.

Một thời để chết là hai năm cuối đời, Schumann trong dưỡng trí viện. H́nh ảnh mảnh giấy vụn chao liệng cuối đường nói đến sự chấm dứt sáng tác của người nghệ sĩ, bước dừng chân. Schumann vẽ nguyệt ngoạc giai điệu trên cửa sổ của gian biệt pḥng chỉ c̣n là những rung động, không thành tác phẩm, dù rằng khung cảnh và cuộc sống muôn đời vẫn thế. Buổi chiều mưa bây giờ vắng lặng những âm giai, dù rằng, “chiếc xe bắn nước tung tóe” chính là đời sống vẫn c̣n đầy náo nhiệt. “Thân nhân của Berlioz thất kinh” là đám đông quá xúc động trước cái chết đầy kịch tính của Shumann, đă một lần trầm ḿnh trên ḍng sông Rhine, v́ Berlioz c̣n sống sau đó rất lâu. Liszt khóc và Paganini tuổi trẻ chơi đàn là hai h́nh ảnh trái ngược ghép vào nhau, v́ Liszt là người chịu ảnh hưởng của Paganini, lúc Paganini mất, Liszt mới 20 tuổi. Liszt khóc là nét vẽ cô đọng của đám đông, thường ứa nước mắt v́ xúc động khi thưởng thức Paganini tŕnh diễn. Câu kết luận nhắc lại vợ Haydn lấy nhạc lót khuôn bánh nói lên h́nh tượng, những tác phẩm bất hủ có được là do những dưỡng chất trần gian, và đời sống tươi đẹp hơn cũng nhờ có tác phẩm của những bậc thiên tài. Đến đây, chúng ta phát hiện thêm một chi tiết, nếu Schumann có được một người vợ yêu thương chăm sóc th́ Haydn lại có người vợ tẻ lạnh, ngược đăi, nếu Gustav Holst lận đận v́ công danh th́ Paganini lại thành công quá sớm. Cái quá độ của đời sống những thiên tài cho chúng ta khái niệm, cuộc đời nghệ sĩ chẳng những phải đau cái đau của người b́nh thường mà có khi phải đau hơn gấp bội, mới có đủ để tạo nên tác phẩm có khả năng cảm thông được với mọi con người.

Bài thơ không có tính chất bi hay hài mà chỉ toàn những h́nh ảnh, một cuốn phim mở ra và khép lại, như câu chuyện kể, làm bật lên ư nghĩa, sự gắn bó và xuyên suốt từng giai đoạn giữa quá tŕnh của kiếp sống và sáng tạo. Nếu thể luật iambic đă là h́nh thức lập lại rồi nên không cần lập lại những câu chữ, nhưng trong bài thơ này tác giả lập lại rất nhiều h́nh ảnh và câu chữ, giống như tân h́nh thức Việt. Người đọc dễ mường tượng ra sự phản hồi và lập lại của Hiệu Ứng Cánh Bướm, và mỗi lần lập lại ư nghĩa mỗi khác. Thời gian tuyến tính là cuộc đời của tác phẩm, và của Schumann; thời gian phi tuyến tính là những đảo lộn, đan chéo vào nhau, quá khứ biến thành hiện tại và hiện tại là quá khứ, hay cả hai cùng xảy ra một lúc, làm người đọc mơ mơ hồ hồ, một loại thời gian fractal của hỗn mang. Chắc chắn, bài thơ c̣n nhiều cách lư giải khác nhau, một bài thơ tân h́nh thức rất hay, nếu chúng ta đọc đi đọc lại bằng nguyên bản, để nghe được những âm thanh dấy lên.

Khế Iêm


Home