THE WHEAT FIELD

Frederick Turner
________________________

CÁNH ĐỒNG LÚA MÌ

Translated into Vietnamese by KI

 

 
 

 

 

 

 

mm

 

mm

 

 

From the author: “The suburbs north of Dallas, especially Richardson, Plano and
McKinney, have become a second Silicon Valley with high tech computer,
communications, nanotech, and biotech companies.  Agricultural fields
are being bulldozed to create new housing for the thousands of workers
in the new corporate campuses.  Those workers come not only from North
America but all over the world.

When a field is sown with wheat, it is a sign that this will be the
last crop before the bulldozers move in.  The wheat field is for
people of British ancestry a symbol of the "field full of folk", the
ancient medieval world of Christendom that the poet William Langland
described in "Piers Plowman", a traditional image of home, ancestral
values, a worshipful attitude to heaven and earth, and a natural
lifestyle.  My poem mourns the loss of that world, but also celebrates
the emergence of a new "field full of folk", a multi-ethnic community
that is creating the future."

THE WHEAT FIELD

This field of rustling wheat has gone from green
To almost hazy blue, to rufous gold.
Piers Plowman's plot is what it seems to mean,
Eternal blessings sown a hundredfold,
Time's wheel of tilth and fallow, reap and glean.

This glory is the mark of death to him
Who travels the North Dallas corridor.
These last years of the old millennium
Wealth in its heyday rises to a roar
Along the freeways of computerdom,

And field by field, wood by dappled wood,
The city, eating northward, prepotent,
Engorges land as its essential food.
They'll sow, the year before development,
A field of corn to suck the soil's last good.

This golden plot's the mark upon the tree
That tells the woodman which one must come down;
It is the fever when the HIV
Plants its pale banner in the body's town:
It is the sign of Man's apostasy.

And the observer in his car or plane
Would on first seeing mourn this cruelty,
Meadows never to see the sun again,
Nature the victim to modernity
– And all the gracenotes of that grim refrain.

But there's a chivalry of experience,
That carries thought beyond its first crude test,
That makes an actor of an audience,
And will not be content with second-best.
Creation flourishes on turbulence;

For what will happen here after the reaping?
The roads will come, the pipes and sewers and wires,
Young families will set up their housekeeping
In raw bright rooms that after a few years
Will be the secret nests of children sleeping;

Strange birds will fly among the orchard-trees
Where once huge flocks of starlings veered and wheeled;
Flowers bred by Romans, Arabs, Japanese,
Are planted there, where all was empty field,
By African and Asian refugees.

The golden corn has got another meaning;
Trans-substanced to a further sacrament;
New bread will rise fragrant out of the gleaning;
The human is what nature always meant;
The golden fall is but another greening
Into the dark fields of the firmament.

___________________________________________________________

 

Lời tác giả: Những vùng ngọai ô ở Bắc Dallas, đặc biệt là Ricardson, Plano và McKinney, đã trở thành Thung Lũng Silicon thứ hai với kỹ thuật cao về điện tóan, những công ty về mạng lưới tin học, kỹ thuật số, và kỹ thuật sinh học. Những cánh đồng nông nghiệp bị san phẳng để xây những khu nhà mới cho hàng ngàn công nhân trong những khuôn viên của những công ty mới. Những công nhân này chẳng phải đến từ Bắc Mỹ mà còn ở khắp nơi trên thế giới.

Khi một cánh đồng lúa mì đã gieo, thì đó là dấu hiệu của một vụ mùa chót trước khi những xe ủi đất bắt đầu làm việc. Cánh đồng lúa mì, đối với những người tổ tiên là người Anh, là “field full of fold” (cõi người), biểu tượng cho những người theo đạo Cơ đốc thời trung cổ và cổ đại mà nhà thơ  William Langland đã diễn tả trong "Piers Plowman". “Cõi người” ấy chính là hình ảnh gia đình truyền thống, giá trị truyền thừa, thái độ tôn kính thiên đường hạ giới, và đời sống thiên nhiên. Bài thơ của tôi thương tiếc cho thế giới đó, nhưng đồng thời cũng tán dương sự nổi lên của một "cõi người" mới, một cộng đồng đa chủng tộc kiến tạo tương lai.

 

CÁNH ĐỒNG LÚA MÌ

Cánh đồng xào xạc lúa mì đã biến từ màu
Lục diệp thành màu xanh mù sương, rồi vàng hung.
Vùng đất trong câu truyện Piers Plowman ngụ ý
Những hồng ân vĩnh cửu đã được gieo xuống cả
Trăm lần, qua bánh xe thời gian của đất cày

Và ải, gặt hái và thu họach. Niềm vinh quang
Này, nay còn đâu, xuyên suốt hành lang North Dallas.
Những năm tháng cuối cùng của thiên niên kỷ ầm
Ĩ nổi lên sự thịnh vượng của thời vàng son
Dọc theo những xa lộ của vương quốc điện tóan,

Và cánh đồng tiếp giáp cánh đồng, rừng cây lốm
Đốm rừng cây, thành thị ăn lan về hướng Bắc,
Lấn lướt, nghiến ngấu đất đai như thực phẩm chính
Yếu. Họ gieo, năm trước khi mở mang, cánh đồng
Ngũ cốc, tận dụng đất trồng cho mùa gặt cuối.

Cánh đồng ngũ cốc này chẳng khác nào dấu ghi
Trên cây dặn người tiều phu cây nào  phải đốn
Ngã; đó là cơn sốt khi HIV cấy
Những biểu ngữ tái xanh trên thân thể thị trấn:
Dấu hiệu suy đồi đạo lý Con Người. Và nếu

Ngồi trên xe hoặc máy bay quan sát, đầu tiên
Là thương tiếc cho sự tàn ác này, những đồng
Cỏ không bao giờ thấy mặt trời lần nữa, thiên
Nhiên là nạn nhân của thời hiện đại – và cả
Những nốt nhạc không thiết yếu của điệp khúc ảm

Đạm đó. Nhưng có một trải nghiệm mang tinh thần hiệp sĩ
Đưa ý tưởng vượt quá thử nghiệm thô sơ ban
Đầu, làm diễn viên trong một khán giả, và sẽ
Không bằng lòng với những gì không hòan hảo. Sự
Sáng tạo nở hoa trong hỗn lọan; và điều gì

Sẽ xảy ra ở đây sau kỳ thu họach? Đó
Là những con đường sẽ hiện ra, điện nước cống
Rãnh, những gia đình trẻ sắp xếp công việc nhà,
Trong những căn phòng sáng sủa, mới tinh để sau
Đó vài năm trở thành tổ ấm cho con trẻ;

Những con chim kỳ lạ sẽ bay trên những vườn
Cây ăn trái nơi đã có lần những bầy chim
Đá đổi chiều và bay lượn; những lòai hoa giống
La Mã, Ả rập Nhật bản, được trồng bởi những
Người tị nạn Phi châu và Á châu, nơi trước

Kia tòan là cánh đồng hoang. Cánh đồng ngũ cốc
Có một ý nghĩa khác; xuyên bản thể tới một
Lễ bí tích xa hơn. Bánh mì mới tỏa hương
Thơm từ sự thu nhặt; với thiên nhiên, con người
Luôn luôn giá trị; sự biến mất của lúa mì

Chỉ là khởi điểm khác bên trong những cánh đồng
U tối của bầu trời.

 

Chú thích

Piers Ploughman (viết năm 1360–1387) hay Visio Willelmi de Petro Ploughman (William's Vision of Piers Ploughman) là tựa đề bài thơ ngụ ngôn Anh thời Trung cổ của William Langland được viết theo kỹ thuật điệp âm (alliterative: âm hay chữ đầu trước hai hay nhiều âm hay chữ tiếp theo) và không vần, chia thành từng đọan, gọi là "passus" (Latin là "step"). Piers Ploughman được những nhà phê bình coi như là một trong những tác phẩm lớn của văn học Anh, cùng với Canterbury Tales của Chauser, và Sir Gawainthe Green Knight trong thời Trung cổ.

Bài thơ, một phần là ngụ ngôn về thần học, một phần là sự châm biếm xã hội, liên quan tới ý định của người kể, tìm kiếm đời sống Cơ đốc đích thực, trong bối cảnh Cơ đốc giáo thời Trung cổ. Sự tìm kiếm này đưa tới hàng lọat những suy niệm viễn vông, và thẩm tra của những nhân vật ngụ ngôn Dowel ("Do-Well"), Dobet ("Do-Better"), and Dobest ("Do-Best") (làm tốt, làm tốt hơn và làm tốt nhất).

Bài thơ bắt đầu nơi Malvern HillsMalvern, Worcestershire, Anh. Một người đàn ông tên là Will thiếp ngủ và thấy một tòa tháp trên một ngọn đồi và một thành lũy dưới một thung lũng sâu; giữa những biểu tượng thiên đường và địa ngục đó, là “cõi người” (field full of folk), đại diện cho thế giới lòai người. Trong phần đầu, Piers, một người thợ cày khiêm tốn, xuất hiện và nhận mình như một người kể truyện, dẫn đường tới sự thật. Những phần sau, liên quan tới người kể đi tìm những nhân vật Dowel, Dobet and Dobest.

From Wikipedia, the free encyclopedia

 

    

________

Biography
________

 

 


Last modified on 11/08/2010 - 6:00 PM © 2004 2010 www.thotanhinhthuc.org.

MUCLUC