Angela Saunders

Translated by Phạm Kiều Tùng







A powerful way to experience a culture is to experience their literature. “Poetry Narrates - An Anthology of Vietnamese New Formalism Poetry” is a beautiful collection of culturally rich poems. The poetry chosen for this anthology creates a remarkable path through which one can experience the innermost thoughts and ponderings of the poet embedded richly within the cultural experience.

The poetry contained within this anthology is both captivatingly simplistic and profoundly complex. Herein, you will find relationships explained in mathematical equations that will have you going back to re-read them multiple times to ponder the mysteries of the human bond. The poems open the reader up to another world in which happiness is not always found around the corner, but each common place experience is given breath through words.  Every day life is captured in a photograph of words and sometimes, that life is not always pleasant.  Poetry, however, does not have to capture the pleasant, but rather the essence and soul of the everyday experience. In reading this, I found the philosophical questions and unique answers captivating. One poem surprises us with an exception to Newton’s law of gravity. Other poems take every day objects to ponder the meaning and use of the object and whether or not it is simply what it appears to be. Another question I found myself asking; are we looking through the world with glass eyes with a new understanding that emptiness is not all it appears to be? The poetry herein leans toward the philosophical and deeper meanings to be found in every day life.

Human beings are born with unique tastes, likes, and dislikes. These personal tastes play an important role in the enjoyment of any art form. Additionally, in order for a taste to be developed, there must be exposure to multiple styles and options in any medium. The Vietnamese New Formalism style brings Vietnamese poetry to light, giving the opportunity for readers to be exposed to a different poetic voice. Once exposure occurs, appreciation and enjoyment for the Vietnamese poetic voice can begin to grow. As you sit in your quiet place and read the poems within this anthology, allow yourself cross over into another time and space. Hear the melodies of a sun-setting afternoon, feel the sensation of waves, see the indifference of the trees, and fly above the smell of rotten eggs.

To truly appreciate the quality and the beauty of the poems contained within this anthology, we must look at the whole picture. Poetry itself, in any language, is a traditional literary method to pass oral accounts and stories from one generation to another. The rhythm and sounds of a poem provide the means of delivery and way to remember the verse. Sounds that flow in the native tongue of one language are linguistically specific and are not easily translated into another language. A poem set to melodies and tunes in a native tongue lose its aesthetic appeal in translation. Thus a conundrum is created. In an increasingly mobile society, how does one bridge the gaps between linguistic, cultural, and generational barriers while preserving traditional heritage? With the Vietnamese being a refugee community, there came a need to create new forms of poetry that bring rise to the Vietnamese voice in the world of literature. This brought about the Vietnamese New Formalism movement, a form of blank verse poetry.

Now, ten years later, Vietnamese New Formalism is earning respect and new readership through the efforts of Khe Iem and other poets and translators that are Vietnamese natives. The efforts that have gone into the translation of the poems from their original form to English cannot be overlooked. Vietnamese is a language formed by six tones which rise and fall in pitch. The listener would hear the musical qualities of the poem created by rise and fall in pitch, a melodious tune that is termed ca dao. John Balaban, translator of Asian Poetry and author of the award winning book “Locusts at the Edge of Summer” in describing the challenges in challenges in translating Asian Poetry into English states:

 “… A repository of images, melodic patterns, aspirations, and beliefs is the cultural center of all Vietnamese poetry. Even literary poets--whether they are working in lü-shih regulated verse (thoduòng luât in Vietnamese), modern free verse, or the metrics of the oral tradition, like the great classical poet Nguyên Du --seem always to be working in some relation to ca dao.”   From Translating Asian Poetry- A Symposium

So how do translators take the melodies and lyrical qualities of the Vietnamese poem and change them into a form that can be understood and deemed poetic to the non-native reader?

To overcome this conundrum, the translators of each poem have taken great pains to keep the voice in each poem in tact while coming up with creative ways to keep the aesthetic appeal of poetry for new readers through repetition, imagery, and enjambments. The poems within contain specific numbers of syllables within the verse (often 5-8 words with 6-8 syllables). The stanzas are organized into four lines. In addition to a patterned number of syllables, enjambmentsare usedat exact syllable counts that remain consistent throughout the poem. This means that a thought that begins on one line may continue or suddenly stop on the next. Traditionally, enjambments, or stops, will occur to highlight specific words or thoughts. This unnatural stop pattern will often enhance the visual and emotional impact of the poem. Each use of repetition, enjambment, and imagery allow us to truly see the beauty of the thoughts each author is trying to portray. The placement of each word is such that one must consider each meaning implied by positioning, line endings, and strong sensory imagery. For each element paints a desired portrait; each word an integral part of the poem; and each repetition and position shouting out the thoughts of the author and the translator and each poem taking on life of its own. 

Now, find a nice, quiet place to kick back and relax and join with me on this journey to peek into the minds of our brethren and their translators as they pour out their souls and explore new philosophies in this collection of poems specifically chosen for their beauty and representation of the Vietnamese New Formalism Style.


Angela Saunders is the poetry editor for BellaOnline and for "Mused" online literary magazine. Additionally she is the program coordinator for a national Deaf-Autism program and a national public speaker on topics related to Deafness, Autism, and language barriers created by the two disabilities. She is a co-author of the book "Road To Hope" and has written several educational poetry books to teach life skills to the Autistic children in her program.







Đường lối có tác dụng mạnh mẽ để trải nghiệm một nền văn hóa là trải nghiệm nền văn chương của nó. “Thơ Kể – Tuyển Tập Thơ Tân Hình Thức Việt” là một sưu tập thật hay gồm những bài thơ giàu chất văn hóa. Thơ tuyển trong tuyển tập này tạo ra một đường dẫn đáng lưu ý qua đó người ta có thể trải nghiệm những suy tư và những cân nhắc sâu thẳm nhất của thi sĩ được in sâu với sắc thái phong phú giữa lòng một trải nghiệm văn hóa.

Những bài thơ trong tuyển tập vừa giản dị một cách quyến rũ vừa phức tạp một cách thâm sâu. Trong đây, bạn sẽ nhận ra những mối quan hệ được giải thích bằng những phương trình toán học mà chúng khiến bạn phải trở lui đọc lại nhiều lần để trầm tư về những điều huyền bí của những mối dây liên kết những con người. Những bài thơ mở ra cho người đọc một thế giới khác ở đó hạnh phúc không phải luôn là cận kề, mà mỗi trải nghiệm dung tục có được sinh khí thông qua những chữ. Cuộc sống thường ngày được chụp bắt trong bức ảnh làm bằng những chữ, và đôi khi ta thấy cuộc sống không phải luôn là dễ chịu. Tuy nhiên thi ca không buộc phải nắm bắt điều dễ chịu, đúng hơn là nó nắm bắt cái yếu tính và linh hồn của trải nghiệm thường ngày. Đọc tập thơ, tôi phát hiện được những vấn đề triết lí và những giải đáp đặc biệt thật quyến rũ. Có một bài thơ khiến chúng ta kinh ngạc về một ngoại lệ của luật về trọng lực của Newton. Những bài thơ khác nói về những sự vật thường ngày để trầm tư về ý nghĩa và công dụng của sự vật và tự hỏi liệu sự vật có thực sự như nó vẫn hiện ra như thế. Tôi nhận ra rằng tôi đã tự đặt ra một vấn đề khác: phải chăng chúng ta nhìn xuyên suốt thế giới qua cặp kính với sự thấu hiểu mới mẻ rằng cái trống rỗng hoàn toàn chẳng phải như nó vẫn hiện ra như thế? Thơ, trong tuyển tập, thiên về những ý nghĩa triết lí và sâu xa hơn được thấy trong cuộc sống thường ngày.

Những con người được sinh ra cùng với những thị hiếu, những điều thích và không thích vốn là đặc biệt của từng người. Những thị hiếu cá biệt này giữ một vai trò quan trọng trong sự thưởng ngoạn bất kì hình thái nghệ thuật nào. Thêm vào đó, để một thị hiếu được triển khai, buộc phải có sự phô diễn nhiều phong cách và nhiều chọn lựa khác nhau trong bất kì phương tiện truyền đạt nào. Phong cách Thơ Tân Hình Thức Việt đã đưa thơ Việt ra ánh sáng, tạo cơ hội cho người đọc tiếp cận một giọng thơ khác. Có được sự phô diễn nói trên, việc thẩm định và thưởng ngoạn giọng thơ Việt [khác đó] có thể bắt đầu được nảy nở. Khi bạn ngồi ở nơi yên tĩnh của riêng bạn và đọc những bài thơ trong tuyển tập, hãy tự cho phép mình vượt sang tới một thời gian và không gian khác. Lắng nghe những giai điệu của buổi chiều tà, cảm nhận cái cảm giác về những đợt sóng, thấy được sự bơ thờ của cây cối, và bay vượt lên trên mùi trứng ung rữa.

Để thực sự thẩm định được phẩm chất và vẻ đẹp của những bài thơ trong tuyển tập, chúng ta phải nhìn vào bức tranh toàn cảnh. Bản thân thơ, trong bất kì ngôn ngữ nào, là phương pháp văn học truyền thống để chuyển giao những mô tả và những chuyện kể bằng lời từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhịp điệu và âm thanh của một bài thơ cung cấp phương tiện truyền đạt và phương thức ghi nhớ thi ca. Những âm thanh trôi chảy trong một ngôn ngữ bản địa đều có nét đặc thù về mặt ngôn ngữ và không dễ dàng để dịch sang một ngôn ngữ khác. Một bài thơ được sắp đặt theo những giai điệu và âm điệu trong một ngôn ngữ bản địa, khi được dịch sang ngôn ngữ khác, sẽ mất đi sức quyến rũ của nó về mặt thẩm mĩ. Do vậy, nảy sinh một vấn đề hóc búa. Trong một xã hội mà mức độ cơ động không ngừng gia tăng, làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa những rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, và thế hệ, trong khi vẫn duy trì được di sản truyền thống? Với những người Việt xét như một cộng đồng người tị nạn, nảy sinh nhu cầu sáng tạo những hình thái thi ca mới nhằm cất cao tiếng nói của người Việt trong thế giới của văn chương. Chính điều này đã làm nảy sinh phong trào Thơ Tân Hình Thức Việt, xét như một dạng thơ không vần.

Từ đó tới nay, mười năm qua, Thơ Tân Hình Thức Việt đã khiến người ta phải tôn trọng nó, và tạo được một lớp độc giả mới, nhờ vào những nỗ lực của Khế Iêm và của những nhà thơ và những người dịch khác, đều là những người quê quán ở Việt Nam. Những nỗ lực để dịch những bài thơ từ dạng gốc của chúng sang tiếng Anh là không thể bỏ qua. Tiếng Việt là một ngôn ngữ hình thành bởi sáu thanh, với cao độ bổng trầm khác nhau. Người nghe sẽ nghe ra những nhạc tính của bài thơ hình thành bởi sự bổng trầm của cao độ, qua một thể loại được gọi là ca dao. John Balaban, người dịch Asian Poetry và là tác giả cuốn sách được giải thưởng “Locusts at the Edge of Summer”, khi mô tả những thách thức trùng điệp trong việc dịch Asian Poetry sang tiếng Anh, đã viết:

“… Một kho tư liệu những hình ảnh, những khuôn mẫu giàu giai điệu, những khát vọng, và những niềm tin, là trung tâm văn hóa của tất cả thi ca Việt. Ngay cả những nhà thơ am hiểu văn học – dù họ làm thơ Đường luật, thơ tự do hiện đại, hoặc thơ vần luật loại truyền khẩu, như nhà thơ cổ điển lớn Nguyễn Du – dường như bao giờ thơ của họ cũng ít nhiều liên quan tới ca dao.” From Translating Asian Poetry – A Symposium

Như thế, bằng cách nào những người dịch xử lí những giai điệu và những phẩm tính trữ tình của bài thơ Việt và biến đổi chúng trong một dạng khiến có thể được hiểu và được cho là thơ, đối với người đọc mà tiếng Việt không phải là bản ngữ?

Để khắc phục vấn đề hóc búa này, những người dịch đã phải bỏ nhiều công sức để giữ được giọng điệu riêng của từng bài thơ trong khi vẫn làm nảy sinh được những cách đầy sáng tạo để duy trì nét quyến rũ về mặt thẩm mĩ của thơ, dành cho những người đọc mới, thông qua những cách lặp lại, tạo hình ảnh, và vắt giòng. Những bài thơ trong tuyển tập gồm những câu thơ có số lượng âm tiết đặc trưng (thường là câu gồm 5 tới 8 từ, với 6 tới 8 âm tiết). Mỗi khổ thơ gồm bốn giòng. Thêm vào việc số lượng âm tiết được đưa vào khuôn khổ, việc vắt giòng được thực hiện nhất quán cho toàn bài đúng theo số lượng âm tiết được đếm. Điều này có nghĩa là một ý thơ bắt đầu từ giòng này có thể tiếp tục hoặc bất chợt dừng lại ở giòng kế tiếp. Theo truyền thống, thì những chỗ vắt giòng, hoặc những điểm dừng, là để làm nổi bật những từ hoặc những ý đặc trưng. Còn khuôn khổ này, về điểm dừng bất thường, thường sẽ tăng cường tác động vào thị giác và vào cảm tính mà bài thơ tạo được. Mỗi cách sử dụng phương thức lặp lại, vắt giòng, và tạo hình ảnh đều cho phép chúng ta thực sự thấy được vẻ đẹp của những ý thơ mà mỗi tác giả đã nỗ lực để khắc họa. Vị trí của từng từ được bố trí để ta phải thấy rằng từng ý thơ đều được hàm ý trong việc định vị các từ, việc kết thúc câu, và trong việc tạo hình ảnh gây cảm giác mạnh. Bởi vì mỗi yếu tố đều khắc họa một hình ảnh theo mong ước của nhà thơ; mỗi từ khắc họa trọn một phần của bài thơ; và mỗi sự lặp lại và mỗi định vị đều cất cao giọng về những ý thơ của tác giả và dịch giả, và mỗi bài thơ có được cuộc sống riêng của nó.

Nào, hãy tìm một nơi thú vị, yên tĩnh để thoải mái và thư giãn và cùng tôi vào cuộc hành trình nhìn trộm vào trí tưởng của các người đồng đạo với chúng ta và của các dịch giả của họ, khi họ trút cạn hồn họ vào thi tuyển này và thám hiểm những triết lí mới trong đó, một thi tuyển gồm những bài thơ được chọn lọc đặc biệt vì vẻ đẹp của chúng, và tiêu biểu cho Phong Cách Thơ Tân Hình Thức Việt.         

Translated into Vietnamese by Phạm Kiều Tùng