STORIES RETOLD ONLY AFTER 40 YEARS

CHUYỆN 40 NĂM SAU MỚI KỂ

Inrasara

 

 
 

 

 

 

Story 1. Running away from diseases

Mother took my brothers and sisters and
me into hiding in sixty-three. Nowhere
far; mother took us to an aunt’s house three
streets away. Mother said: let’s sleep over at

the lonely aunt’s; I knew that mother was
taking us to run away from diseases.
Father recounted that in times past, our maternal
grandfather had piggy-backed him running far,

far. These days the hamlets cannot move anywhere.
I remember my sister with one hand
holding tightly to her dhai dress, ragged, that
president Ngô forbade the Chams to wear,

with the other arm holding onto the
youngest boy crying two rows of tears.
Nowadays the youngest boy is in the sixth
grade; the dhai dress no one is forbidden to wear,

my sister tossed it away a long
time ago; the strategic war diseases
are no more. A story retold only after
40 years.

 


Story 2. Eating words

I have a friend who is afflicted with the
disease of eating words. Nothing else, he
eats morning noon afternoon; he chews gnashingly.
His wife has cried all of these two years.

He eats all sorts of light and heavy things: Nietzsche,
Confucius, then Sagan. He eats habitually.
He eats slowly, meticulously. When I
was still in shorts, I saw an old man in

my village eating the moon with fresh water
for lunch. Before that, my father recounted that
my maternal great-grandfather, running
away from a Minh Mệnh mandate, read the

book of rituals, burned through the poetry of
Glang Anak, mixed kids urine to drink instead
of eating words. He lived to be over a hundred
years old, my father said; such strange eating

habits, unique to each generation
no matter where. Chams never cease to have
the word-eating gene. His wife cried; why exactly
did it have to be her husband?

 

 

Story 3. Waiting for boats

Perhaps it has been one, two hundred years,
or more than that, that he has waited. Waited
for the boats. Arriving in the afternoons,
just as the guru had promised. Like seventy

years earlier, his son had waited for the boats.
Surely they’ll come, the father had said.
A father could not ever lie to his son.

Like forty years ago, his grandchildren
now wait for the boats. In the afternoon, after   
closing the cages. They wait as such, still          
in that upright position on that mound

of earth — toward the sea. The boats surely
will come. Their ancestors have promised so,
it is written so in books. They cannot
but wait for the boats to come from the sea.

This inheritance passed down from fathers to
sons. Until the hamlets; then they stopped waiting,
no more opportunity to wait. The boats
had come and gone, a long time ago, perhaps.

 

 

 

Last modified on 06/25/2007 4:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC

 

 

 

 

 

 

Chuyện 1. Chạy dịch

Mẹ dắt anh chị em tôi đi trốn
năm sáu ba. Không đâu xa, mẹ dắtï
qua nhà bà cô cách ba ngõ. Mẹ
nói: ngủ lại bà cô côi cút, tôi

biết mẹ dắt anh em tôi chạy dịch.
Cha kể: ngày xưa ông ngoại cõng cha
chạy xa rất xa. Thời buổi này ấp
chiến lược không đi đâu cả. Tôi nhớ

chị một tay ôm cứng chiếc áo dhai
cũ nát, Ngô tổng thống cấm Cham mặc,
một tay bế thằng út đứng khóc nước
mắt hai hàng. Hôm nay thằng út con

lớp sáu, áo dhai chả ai cấm, chị
vứt đi lâu rồi, chiến tranh chiến lược
dịch không còn. Chuyện 40 năm sau
mới kể.

 

 

Chuyện 2. Ăn chữ

Tôi có thằng bạn mắc bệnh ăn
chữ. Không thứ gì khác, hắn ăn
sáng trưa chiều, hắn nhai ngấu nghiến.
Vợ hắn khóc hai năm nay thôi.

Hắn ăn đủ các thứ nặng nhẹ
Nietzsche Khổng đến Sagan hắn
ăn tất tần tật. Hắn ăn từ
tốn chậm rãi. Thuở còn xà lỏn

tôi đã thấy ông lão làng tôi
ăn trăng với nước lã trừ bữa.
Trước nữa, cha kể, ông cố ngoại
tôi chạy càn Minh Mệnh đã đọc

kinh lễ, đốt thi phẩm Glang Anak
pha nước đái trẻ uống thay vì
ăn chữ. Ông sống trên trăm tuổi,
cha nói, giòng ăn lạ chỉ sinh

một trong thế hệ bất kì đâu.
Cham không bao giờ tiệt nòi ăn
chữ. Vợ hắn khóc sao trúng ngay
chồng em.

 

 

Chuyện 3. Chờ tàu

Có lẽ đã một trăm, hai trăm
năm, và hơn thế nữa, ông đã
chờ. Chờ những con tàu. Đến vào
buổi chiều, như guru đã hứa.

Như bảy mươi năm trước, con ông
đã chờ. Những con tàu. Chắc chắn
sẽ đến, người cha nói. Người cha
thì không thể nào dối con được.

Như bốn mươi năm qua, cháu ông
chờ. Con tàu. Buổi chiều, sau giấc
đóng chuồng. Họ chờ như thế, vẫn
dáng đứng ấy trên mô đất ấy –

về phía biển. Những con tàu chắc
chắn sẽ đến. Tổ tiên họ đã
hứa thế, sách chép như thế. Họ
không thể không chờ. Những con tàu

đến từ phía biển. Nỗi cha truyền
con nối. Mãi khi có ấp chiến
lược, họ mới hết chờ, hết còn
cơ hội chờ. Những con tàu đã

đến và bỏ đi, từ lâu rồi,
có lẽ.