ĐỌC THƠ

Nguyễn Hoài Phương

Bài viết Khế Iêm

 

 

 
 

 

 

 

 

Phiên Chợ

Những con người cũ và những mặt
hàng cũ, những người bán hàng cũ
bán những mặt hàng cũ cho những
người mua cũ, những người mua cũ

mua lại những mặt hàng cũ của
những người bán cũ, cả phiên chợ
rộng mênh mông toàn những đồ cũ
được trao qua đổi lại giữa những

con người cũ, chẳng có cái gì
mới, vì tất cả những cái tưởng
chừng rất mới đều là những cái
rất cũ, tất cả những cái tưởng

chừng rất mới ấy đều là những
cái rất cũ, từ những cái rất
cũ, thuộc về những cái rất cũ
được sản xuất lại, bằng những dây

truyền cũ, công nghệ cũ, con người
cũ, trông cứ như là mới, thật
ra là mới nhưng thật ra lại
vẫn rất cũ, những mặt hàng cũ

từ những nơi cũ được bán qua
bán lại, mua qua mua lại giữa
những con người cũ, rồi lại trở
về những nơi cũ, chẳng có cái

gì mới, từ phiên chợ này đến
phiên chợ khác, từ tuần này đến
tuần khác, tháng này đến tháng khác,
năm này đến năm khác, những mặt

hàng cũ đã bán rồi vẫn bán
lại, những mặt hàng cũ đã mua
rồi vẫn mua lại, chẳng ai bán
được cái gì mới, cũng chẳng ai

mua được cái gì mới, và cũng
chẳng có ai mới, ai cũng rất
cũ, vô tình cũ, cố tình cũ,
bị bắt ép phải cũ, tình nguyện

cũ, cũ đến nhàm chán, đến chẳng
thể cũ hơn được, đến càng cũ
lại càng tưởng rằng rất mới, càng
đi về phía cũ thì lại tưởng càng

đi về phía mới và cứ thế ngày
lại ngày các phiên chợ diễn ra

3 - 12 – 06

Bài thơ không diễn tả quang cảnh phiên chợ, hay kể lại một câu chuyện nào đó trong sinh hoạt chợ búa, mà chỉ luận bàn về chuyện cũ mới. Nhưng bài thơ có tốc độ đọc bắt người đọc phải đọc rất nhanh, làm cho những âm thanh và hình ảnh dồn dập, chồng chất và triệt tiêu lẫn nhau. Bài thơ xóa đi nội dung, phong cách, để chỉ còn lại một ý niệm, có một bài thơ vừa hiện hữu. Nếu đọc đi đọc lại nhiều lần với một tốc độ như thế sẽ chỉ còn âm chữ “cũ” lập đi lập lại, có tác động như một lời kinh, làm mất đi mọi ý nghĩ trong đầu. Khi không còn ý nghĩ, tâm trí được nghỉ ngơi và thanh thoát. Như vậy, qua bài thơ chúng ta phát hiện một công dụng mới, thơ gần với đạo, giải thoát con người khỏi nỗi phiền muộn.

Nhà thơ Nguyễn Hoài Phương (bút hiệu khác: Kim Yến, Nguyễn Cảnh Nguyên) đến với thơ tân hình thức ngay từ số 20 Tạp chí thơ số mùa Xuân 2001. Và từ đó anh sáng tác rất đều đặn cho đến khoảng 100 bài thì tạm ngưng lại. Với số lượng đó, đã là một điều chúng ta cần tìm hiểu, vì bất kể những biến động bất lợi trong thời kỳ sơ khai của thể thơ này, anh vẫn chẳng hề nản lòng.

100 bài thơ với rất nhiều đề tài, miên man hết bài này qua bài khác, không thiếu những ý tưởng và hình ảnh mới mẻ. Nhưng bài thơ lại không có một câu truyện mà chỉ là tâm trạng của tác giả về những sự việc xảy ra chung quanh. Để so sánh: một bà mẹ Việt nam khi muốn cho con ngủ thì hát ru con, còn bà mẹ phương Tây thì ngồi ở đầu giường kể truyện hay đọc sách. Giọng kể trong thơ phải là giọng kể của ngừơi kể chuyện. Dĩ nhiên cách diễn đạt trong thơ khác với truyện, và là điều mỗi nhà thơ cần có những thử nghiệm riêng. Tôi không nghĩ bây giờ một bài thơ truyện kể dài hơi có thể gây chú ý nơi người đọc, nhưng một bài thơ vừa vừa, có nhịp điệu và nội dung lôi cuốn là điều có thể. Và nếu đứng ở vị trí của người kể truyện khách quan, nhà thơ có thể nhập vai vào nhiều thành phần khác nhau trong đời sống xã hội. Và chúng ta cũng sẽ thai nghén được nhiều phong cách diễn đạt khác nhau. Ý tưởng chính xác rõ ràng trong cách nói bình thường khi chuyển vào thơ, kết hợp với cách dùng chữ, nhịp điệu và sự hài hòa sẽ tạo ra phong cách.

Kẻ Mất Mặt

Theo năm tháng, dần dần những người
xung quanh hắn ai rồi cũng hình
thành một khuôn mặt. Riêng hắn thì
dù cố gắng lắm, dù hắn thử

làm mặt bằng bìa cứng, bằng giấy
bồi, bằng đá, bằng gỗ, bằng sắt,
bằng sáp... nói chung là bằng đủ
các kiểu loại vật liệu, kể cả

loại vật liệu bằng đất, thậm chí
đất bùn, rất rẻ, gần như cho
không và có thể làm đi làm
lại, nhưng rồi hắn vẫn chẳng thấy,

chẳng biết mặt mình thế nào. Hắn
soi vào gương, soi xuống nước, soi
vào mặt, vào mắt, vào tâm hồn
người này người khác, soi vào chỗ

nào cũng chẳng thấy mặt hắn. Tức
lên hắn giơ tay tự tát hẳn
vào mặt song hắn không cảm thấy
đau cũng không cảm thấy gì cả,

không thấy ngứa, không thấy rát, không
thấy chai, và đến lúc ấy hắn
mới biết thì ra mặt hắn đã
bị ai vác đi từ lúc nào.

“Mất mặt” theo nghĩa bóng là mất danh dự, mất thể diện…nhưng theo nghĩa đen thì không có nghĩa vì không ai đánh mất được “cái mặt”. Nghĩa bóng thường là ẩn dụ, là ngôn ngữ của thơ, còn nghĩa đen là ngôn ngữ đời thường. Ở đây tác giả dùng nghĩa đen làm ngôn ngữ thơ, chuyển cái vô nghĩa thành có nghĩa, một cái mặt “bị ai vác đi từ lúc nào”, như một xác nhận, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đời thường. Thật ra ngôn ngữ đời thường khi kết hợp với nhịp điệu văn xuôi (hay đời thường) sẽ biến thành ngôn ngữ thơ trong sự liện hệ toàn bộ để cấu thành phong cách. Ở thời chưa có văn tự, ngôn ngữ thơ đơn giản dễ hiểu kết hợp với vần điệu vì nhu cầu dễ nhớ, tạo nên nền văn học truyền khẩu, như ca dao tục ngữ của Việt nam. Khi có chữ viết, rồi máy in thì thơ không cần phải nhớ vì nếu muốn có thể mở sách ra đọc lại. Và con người cũng có nhiều mối bận tâm như hội họa, âm nhạc và các bộ môn khác như kịch truyện… thơ không còn độc quyền là phương tiện giải trí của con người. Ngôn ngữ thơ trở nên trừu tượng khó hiểu, rồi dần dần cũng không cần vần điệu nữa như thơ tự do, không cần cả văn tự nữa như thơ cụ thể…

Nhưng nếu ngôn ngữ đời thường phải đến cuối thế kỷ thứ 18, với phong trào Lãng mạn mới được Wordsworth đề cao và sử dụng, thì cho tới bây giờ thơ Việt vẫn còn dừng lại ở chuyển động trong cái thế bất động, từ vần điệu qua chữ. Người đọc vì thế cũng chưa quen với ngôn ngữ và nhịp điệu đời thường, nên khó mà thấy được cái hay. Như vậy phải cần đến phê bình chăng? Và tại sao không thiếu những bài thơ hay đến trực tiếp với người đọc, không cần qua trung gian của phê bình? Phân tích vấn đề này chúng ta có thể nhận ra thêm tính chất của thơ.

Thơ vần điệu cổ điển và tiền chiến gọi là bình thơ. Trong một cuộc bình thơ, người đọc phát hiện ra cái hay một chữ đắc địa, hay một ý tưởng mới mẻ, bình lên, thường thì khen chứ ít khi chê. Sau này, ảnh hưởng của phương Tây, chúng ta gọi là phê bình, nhưng vì cách sáng tác vẫn nằm trong tu từ nên phê bình cũng chỉ diễn dịch trên nghĩa chữ. Khi diễn dịch trên nghĩa chữ, không có gì làm cân bằng giữa bài thơ và trí tưởng tượng nên kết quả là bài phê bình dễ bị buông xuôi vào tưởng tượng. Vì thế đôi khi lời bình lại chẳng ăn nhập gì tới thơ, nên người đọc càng lúc càng xa dần thơ. Trong thơ tân hình thức, vì ngôn ngữ đời thường nên không có chữ nào nổi bật hơn chữ nào. Mọi chữ đều bình đẳng nên không gây chú ý nơi người đọc qua chữ, như thơ tự do, hoặc bí hiểm, hoặc thô tục. Như vậy khi phê bình thơ phải tìm ra những yếu tố mới của thơ. Điều này cũng phù hợp với một thể thơ mới, người đọc muốn biết để dễ thưởng thức thơ.

Trở lại với thơ Nguyễn Hoài Phương, người đọc dễ bị lầm lạc giữa thơ và văn xuôi, giữa tự nhiên và dễ dãi. Nhưng chỉ với hình thức thôi thì đã phân biệt được đâu là thơ đâu là văn xuôi rồi. Còn về nội dung, một đoạn văn xuôi thì luôn luôn dở dang, không thể có tính hoàn tất như thế được. (Ở điểm này, chúng ta cần bàn luận thêm, rút ra những yếu tố khác để tránh sự hiểu lầm giữa thơ và văn xuôi. Vì nguyên sự hiểu lầm như thế cũng đã làm hỏng bài thơ). Bài thơ đọc lên thấy tự nhiên làm chúng ta có cảm tưởng như dễ dãi, nhưng nếu làm thử, không chắc có ai làm được. Để giải quyết vấn đề, chỉ còn cách chúng ta phải tìm hiểu ra cách đọc bài thơ. Trước khi đọc thơ cần sự yên lặng, một khoảng rỗng không, không có sự nhiễu âm của tâm trí. Lúc đó chúng ta không còn những ý niệm phân biệt, thành kiến, và cái hay của từng loại thơ sẽ hiển hiện, chẳng khác nào tính trật tự nổi lên trong hỗn mang. Với những dòng thơ cũ, vần điệu và tự do, cảm xúc được bật ra từ chữ, và cảm xúc dẫn người đọc thoát ra ngoài cõi thực, sống trong ảo giác. Người đọc thụ động và bị dẫn dắt bởi cảm xúc. Với thơ tân hình thức thì  khác, ý tưởng kết hợp với câu trúc câu chữ, tạo nên sự chuyển động của cảm xúc. Người đọc không bị dẫn dắt bởi cảm xúc, mà độc lập với cảm xúc, thấy được tiến trình chuyển động của cảm xúc.

Một đặc điểm nữa của thơ nguyễn Hoài Phương là tính thời sự. Khi ổn định được phong cách, là lúc nội dung được thay đổi liên tục và phong phú hoá. Và nội dung ấy lại dễ dàng tuôn chảy vì hàng ngày bao nhiêu là chuyện xảy ra, chỉ việc chắt lọc lại sao cho vừa vặn với chủ đề. Mà mỗi chủ đề trong thơ lại chứa đựng rất nhiều ý tưởng mới lạ. Hàng trăm bài thơ là một tác phẩm dài hơi vẽ nên những hoạt cảnh đời sống một thời. Và với số lượng bài thơ như thế cũng đã đủ để bắt đầu thay đổi một phong cách khác. Và thay đổi như thế nào thì chúng ta lại phải quay lại với sự khác nhau giữa hai cách kể ở trên, với người kể, ở ngôi thứ ba, khách quan, nói lên tâm trạng, ngôn ngữ, cách nhìn của nhiều thành phần khác nhau trong đời sống xã hội, thay vì chỉ nói lên tâm trạng theo chủ quan của chính tác giả.

 

 

 

Last modified on 07/28/2008 - 7:30 PM © 2004 -2008 www.thotanhinhthuc.org.
HOME