ĐỌC THƠ

Nguyễn Thị Ngọc Nhung

Bài viết Khế Iêm

 

 
 

 

 

 

Chìa khóa

Ai cũng có ít nhất một
chìa khóa để mở một cái cửa và
một chùm khóa thì có nhiều
chìa để mở đủ thứ cửa kể cả
những cái cửa đã thay ổ
khóa mà chìa thì vẫn còn nguyên trong
chùm không dám vất đi vì
không còn nhớ cửa nào với cửa nào
và chìa nào thì vô dụng
và chìa nào thì là chìa chính mở
được hết tất cả mọi cái
cửa có cùng một thứ ổ của căn
nhà đã dọn ra lẫn lộn
với chìa của nhà mới nhà cũ nhà
cho thuê chia phòng có cửa
ra vào riêng một chìa cho cổng một
chìa cửa trước một chìa khóa
xe có báo động lủng lẳng kề bên
chìa cửa phòng làm việc mất thì phải
đền vài trăm đồng nhiều hơn
tiền đền chìa khóa tủ sắt ngân hàng
bằng nửa lóng tay nhưng cũng
đủ làm nặng thêm những chùm khóa khua
leng keng trong túi quần hay
nằm tận đáy ví. Đấy là chưa kể
những thứ chìa mở cửa bí
ẩn đời sống trí thức con người mà
ai cũng có chìa giả tốn
chín mươi chín xu làm ở Home
Depot.

2001


Bài thơ của Nguyễn Thị Ngọc Nhung vẽ ra một khung cảnh khác hẳn với bài thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh. Nhịp điệu trong bài thơ “Buổi sáng Đọc Báo” từ tốn, như đang trò chuyện, còn trong bài thơ “Chìa Khóa” gấp gáp, vội vã gợi tới nhịp độ đời sống Mỹ. Mới nhìn, bài thơ gồm hai đoạn thật dài và thật ngắn, thể thơ lục bát không vần cũng câu dài câu ngắn, báo hiệu nhịp điệu mạnh cho toàn bài thơ. Sự khác biệt trong cách thể hiện là trong bài thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh, những hình ảnh và liên tưởng tuần tự hiện ra, còn bài thơ của Nguyễn Thị Ngọc Nhung nói thẳng vào vấn đề. Tốc độ đọc như bị một lực cuốn càng lúc càng nhanh, đến độ không kịp nhận ra ý nghĩa bài thơ. Nếu thể luật trong thơ tiếng Anh đối kháng với ý nghĩa, tạo nên xung động, xung động tạo nên nhịp điệu thì ở đây thể thơ Việt vì chỉ nương theo ngôn ngữ tự nhiên, không bị vướng vào luật tắc nên sức kiềm chế không đủ làm bật lên ý nghĩa. Ý nghĩa bài thơ rơi vào hỗn mang, tưởng chừng như ý này bị nhịp điệu cuốn đi quá nhanh chồng lên ý khác. Nếu nhịp đọc chậm lại, chúng ta sẽ nhận ra mở đầu tác giả nói chung, ai cũng phải có ít ra vài cái chìa khóa, khóa cửa nhà, cửa phòng, khóa xe, khóa của phòng làm việc... Trong dòng 10 “và chìa nào thì là chía chính mở”, hai chữ “thì là” đứng liền nhau làm cho nhịp điệu đang trôi chảy bỗng bị khựng lại, như dòng suối bị một hòn đá làm rẽ nhánh. Nếu trong văn xuôi thì thừa một chữ, nhưng trong thơ lại có tác dụng làm chậm bớt nhịp đọc. Những chữ lập lại cũng vậy, tối kỵ trong văn xuôi nhưng lại là một yếu tố mạnh nhất của thơ.

Chùm chìa khóa là vật tầm thường nhỏ mọn, không ai để ý đến nhưng lại là vật bất ly thân, một thứ thần hộ mệnh. Nhân vật trong bài thơ bị ẩn đi, như những chiếc chìa khóa, nhưng đặc điểm cá tính lại được làm nổi bật lên bản tính lơ đễnh. Những chiếc chìa khóa cũ, chỉ vì không bỏ ra khỏi chùm chìa khóa nên nhân vật lẫn lộn không còn biết cái nào là cái nào. Nhân vật cũng không phải là người đi thuê nhà hay thuê phòng, mà là một người làm chủ căn nhà, vì có chìa chính mở được hết cả các cửa, nhà có ngăn phòng cho thuê, có chìa khóa mở tủ sắt trong ngân hàng. Trở lại với nội dung, đến đoạn ngắn sau, tác giả mới nói rõ ý định của bài thơ. Những cái mốc bám (key words) giúp người đọc không xa rời nội dung bài thơ: “Chìa khóa”, “nhà cho thuê chia nhiều phòng”, “đời sống trí thức”, “chìa giả”. Như vậy cũng chưa đủ, cần phải hiểu thêm về tác giả, du học ở Mỹ vào năm 1974, tốt nghiệp và sống ở đây đã 30 năm, là dịch giả những tiểu luận về chủ nghĩa hậu hiện đại thập niên 1980. Bài thơ “Chìa khóa” muốn nói tới một khía cạnh trong đời sống Mỹ. Một học giả Hoa kỳ đã từng thốt lên: “Tôi sống trong một xã hội hậu hiện đại, tôi là con người hậu hiện đại”. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo nên những phong trào tiền phong từ kịch nghệ, tiểu thuyết đến thơ ở thập niên 1980, lên tới cực điểm và suy tàn vào thập niên sau đó. Ý nghĩa của thuật ngữ này, chỉ đơn giản là ngay bây giờ, chẳng khác nào quan niệm của thiền học phương Đông, nắm bắt những khoảnh khắc thực tại.

Vào thập niên 1980, những nhà triết học cho rằng xã hội Mỹ là một vùng đất tốt thực hành chủ nghĩa hậu hiện đại. Thật ra, chủ nghĩa hậu cấu trúc cũng như hậu hiện đại chỉ là một phương pháp luận để giải thích những hiện tượng xã hội. Khi máy điện toán đã được thông dụng và áp dụng, xã hội tổ chức điều hành theo những mã số. Mỗi cá nhân có nhiều mã số, tùy theo mối giao tiếp, thông tin về mặt nào, mua bán, bảo hiểm, an ninh xã hội, tội phạm, trợ cấp... Ngay cả mỗi mặt hàng cũng như khách hàng cũng đều được mã số hóa. Có những mã số biến đi, và có những mã số hiện ra, khi một cá nhân thay đổi vị trí trong đời sống xã hội. Từ đó người ta nhận ra mỗi con người có nhiều bản ngã khác nhau, và không có bản ngã nào là toàn thể một con người, cũng như căn nhà có nhiều phòng và mỗi phòng có một chiếc chìa khóa. Chiếc chìa khóa là mã số của căn phòng. Ngay cả thực tại cũng là do nhiều thực tại chặp lại. Khi chúng ta lái xe, nhìn qua kính chiếu hậu, hai kính bên hông, kính đằng trước, mỗi chiếc kính cho ta thấy một phần của thực tại, luôn luôn thay đổi và không có mặt nào là toàn phần thực tại. Không ai có khả năng thấy toàn phần thực tại cùng một lúc, cũng như không ai có thể phân thân cùng một lúc ở mọi căn phòng. Như vậy, ngay cả bản ngã của toàn thể một con người cũng không có thực, không ai có thể thấy nắm bắt, ngay cả chính mình, từng lúc một, chúng ta đã khác.

Trong đời sống bình thường, mỗi ngày chúng ta phải sống với rất nhiều vai trò khác nhau, là ông bà, cha mẹ, anh em, công nhân viên chức, thương gia, một người bạn, người tình... nhưng có bao giờ chúng ta sống trọn được với những vai trò đó không? Chắc chắn là không. Thí dụ, trong công việc, dù say mê lắm thì cũng chỉ trong khoảnh khắc hiếm hoi nào đó thôi, và khi nhập vào công việc rồi thì chúng ta cũng không còn nhận ra chính mình. Khi chúng ta bước ra khỏi nỗi đam mê thì lập tức những hình ảnh, mối bận tâm từ những vai trò (hay bản ngã) khác ùa vào. Bởi vì cùng một lúc chúng ta sống với rất nhiều chiều kích khác nhau. Như vậy, không lúc nào chúng ta biết được thật sự bản ngã của mình. Chúng ta là những kẻ khác. Ngay trong giấc ngủ, khi không còn sống với bản ngã nào, nhưng sự thật, những bản ngã khác như những phần mảnh vẫn tiếp tục xen kẽ trong giấc mơ. Phải chăng những ánh chớp sáng trong đời được ghi lại qua những tác phẩm nghệ thuật, cũng chính là bản sao của bản ngã người nghệ sĩ? Nhưng dù thế nào, câu hỏi đơn giản, “chúng ta là ai?” sẽ chẳng bao giờ có câu trả lời. Và sự thật cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi có rất nhiều sự thật, và không có sự thật nào là hoàn toàn đúng. Sống trong thời đại đa thực tại, đa bản ngã như vậy, con người dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh, hòa nhập được với đời sống muôn màu muôn vẻ. Như vậy chẳng nên thơ sao.

Nhân vật vì vậy không được định danh, có thể là tác giả và cũng có thể không, lờ mờ, không rõ ràng. Câu chuyện kéo theo một ngả khác, không ai dám tự coi mình là đạt tới cái biết. Một kỹ sư ra trường, cũng chưa phải là có kiến thức, kiến thức phải được hoàn thiện trong thực hành. Nhưng ngay khi đang thực hành, bao nhiêu sơ suất vẫn xảy ra, đó là chưa kể lúc nào cũng phải cập nhật với thay đổi về những thông tin mới. Thực hành là tiến trình giải trừ kiến thức để chúng ta có khả năng tiếp cận thêm những kiến thức mới. Như vậy kiến thức cũng như thực tại và bản ngã luôn luôn biến đổi. Những định nghĩa và khái niệm cũ phải được nhìn lại cho phù hợp với thời đại. Thí dụ, chủ nghĩa hậu hiện đại cũng chỉ là hóa thân của chủ nghĩa hậu cấu trúc, và tân tu từ là một định nghĩa khác về quan niệm tu từ. Phương Đông cũng có quan niệm, “Tri hành hợp nhất”, và hậu hiện đại cũng cho thấy, kiến thức nếu không áp dụng vào trong thực hành hay trong thực tế đời sống thì chưa thể gọi là kiến thức.
Một câu chuyện vui vui, khi đề cập tới chủ nghĩa hậu hiện đại thập niên 1980 ở những xã hội bắt đầu tiên tiến như Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, những nhà nghiên cứu cho rằng đặc điểm của xã hội hậu hiện đại ở các xứ này là chuyên sản xuất những mặt hàng giả. Điều giải thích này căn cứ vào quan điểm vật giả (simulacrum) của Jean Braudrillard. “Chìa giả” trong bài thơ nói đến sự sao chép, không phải chỉ là câu nói mỉa mai, một khía cạnh khác của hậu hiện đại. Con người thật của chúng ta cũng chỉ là sự sao chép không có nguyên bản từ rất nhiều thế hệ trước đó. Cũng như một chương trình ca nhạc được dàn dựng thâu vào video, rồi sao ra hàng loạt để bán. Những gì chúng ta thưởng thức trên màn hình cũng chỉ là những bản sao, còn hình ảnh thật thì đã mất ngay khi thâu xong, không còn lại dấu vết gì. Điều này lôi người đọc ngược lên với hình ảnh những chiếc chìa cũ ở đoạn trên, làm tăng sắc độ giữa ảo và thực, đề cập tới hiện trạng của những người di dân Việt, chiếc chìa cũ là hiện thân của một nền văn hóa cũ, dù không còn phù hợp với xã hội mới nhưng trong thâm sâu vẫn ẩn trong lòng mỗi con người Việt. Chiếc chìa cũ hiện diện trong chùm chìa khóa, tưởng như vô dụng nhưng lại có tác dụng nói lên quan điểm, không có gì mất đi cũng như không có gì thật sự hiện hữu, chỉ có chúng ta thấy hoặc không thấy mà thôi. Sự khác biệt văn hóa đưa tới những lầm lộn, khó xử như những lúc phải đi tìm cho đúng chiếc chìa để tra vào ổ khóa.

Cũng như bao nhiêu sắc dân khác, những người di dân Việt quần tụ với nhau, vì cùng chung một nền văn hóa. Những chiếc chìa khóa cũ, ở một mặt nào đó lại chẳng phải là cũ. Chìa thật, chìa giả, chìa vô dụng đều được sử dụng để nêu lên những sự việc, những vấn đề quyện vào nhau. Và dường như những thế hệ di dân, cùng một lúc vẫn sống với hai thế giới, nổi trôi giữa hai nền văn hóa, và chẳng cái nào ăn khớp với cái nào. Sự xung khắc đưa đến đổ vỡ, như chiếc chìa khóa không ăn với ổ khóa. Quay về đâu cũng thấy bất an, thôi thì đành chọn văn chương để vượt lên khỏi những phân cách, hòa điệu giữa thực và ảo. Nhưng văn chương lại gắn liền với đời sống thường nhật, lúc nào cũng đổi thay, chủ nghĩa hậu hiện đại thoắt thay dạng đổi tên trở thành Tân hình thức. Tác giả chọn thể thơ tân hình thức vì tinh thần hòa giải của nó, giữa nền văn hóa này và văn hóa khác, giữa truyền thống và hiện đại, giữa quê nhà và quê người. Như vậy, từ một xã hội hậu hiện đại, qua bước đệm của cộng đồng di dân, tác giả có thể làm một cuộc hành trình ngược về với ca dao. Bài ca dao nối kết đồng thời nói lên khía cạnh tiêu cực trong đời sống của người di dân Việt, mức độ ly dị khá cao do sự xung đột văn hóa, cũng lại là một bài lục bát:

Đồng tiền Vạn lịch

Thích bốn chữ vàng
Anh tiếc công anh gắn bó với nàng bấy lâu
Bây giờ nàng lấy chồng đâu
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng
Năm trăm anh đốt cho nàng
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề
Xưa kia nói nói thề thề
Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai
Bây giờ nàng đã nghe ai
Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào.


So sánh giữa thể lục bát của ca dao và lục bát không vần của bài thơ “Chìa khóa”, chúng ta thấy, bài ca dao nhờ có vần nên giai điệu của bài thơ nhẹ nhàng, từ tốn, như một người đang thưởng thức hương vị của một tách trà, còn bài lục bát không vần lại chuyển từ giai điệu qua nhịp điệu, sôi nổi, cuồng nhiệt như đang nhấp một hớp rượu mạnh. Mỗi bài có cách thưởng ngoạn riêng, tùy ý thích của người đọc. Bài ca dao khá đặc biệt, hai câu đầu 4 chữ, câu thứ ba 11 chữ, sau đó mới đồng đều lục bát, nói lên cái bất bình thường. Bài thơ xuất hiện vào khoảng triều Lê, thời Trịnh Nguyễn, thế kỷ 17. Tất cả các yếu tố đó chẳng khác nào, sau thời kỳ phân chia, rồi thống nhất, hình thành những cộng đồng di dân Việt nơi xứ người. Cái cộng đồng di dân ấy, sau một thời kỳ bất ổn định rồi sẽ ổn định khi những thành viên của nó quen dần với đời sống mới. “Đồng tiền Vạn lịch” cũng không phải là tiền Việt, Vạn lịch là niên hiệu nhà Minh bên Tàu, là đồng tiền Tàu, làm chúng ta liên tưởng tới đồng Đô la Mỹ. Hình tượng người đàn bà là ổ khóa, người đàn ông là cái chìa. Trăm cau nghìn vàng nói lên lời thề non hẹn biển, sống trọn đời với nhau. Nhưng rồi vì ham của cải vật chất, người đàn bà đã phụ lời thề. Năm trăm ở đây là năm trăm tiền vàng mã, đốt đi để coi như nàng đã chết trong lòng mình, và đồng thời giải đi những lời thề năm xưa. Bài thơ không những nói lên được hết ý tình của một người sống trong thế giới đa văn hóa, còn nói lên được bản chất chân chất của tác giả. Bởi chính bản chất ấy cũng góp phần không nhỏ trong sự nối kết, đi từ hiện thực về với ca dao.

Bài thơ, nếu một người đọc ở trong nước, sẽ chỉ nghe thấy những âm thanh leng keng của chùm chìa khóa, với người đọc ở Mỹ, sẽ thấy cái thân quen vì mỗi người đều phải có một chùm chìa khóa. Nhưng nếu giảng giải kỹ hơn thì người đọc mới nhận ra thêm những yếu tố ẩn dụ, liên tưởng của bài thơ. Bài thơ có khả năng dùng những khái niệm căn bản của chủ nghĩa hậu hiện đại để giải thích hiện tượng đời sống trong xã hội đó. Tác dụng của bài thơ có thể tương đương với một cuốn tiểu thuyết, có sức đẩy mạnh mẽ, tạo nên sự tưởng tượng phong phú nơi người đọc. Đọc thơ vì vậy rất khó, phải bám chắc vào nội dung mới có thể không sa đà vào những suy diễn vô căn cớ. Bởi vì khi suy diễn, người đọc dễ có cảm tưởng, những điều suy diễn không dính dáng gì đến thơ, người đọc sẽ quên cả bài thơ lẫn suy diễn, và như vậy sẽ làm mất đi tác dụng của thơ, và làm mất luôn thơ.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung, sinh năm 1955, du học Mỹ 1974, làm việc trong ngành vi tính. Viết truyện ngắn từ 1985. Đã in tập truyện “Đêm Rồi Cũng Đi Qua” do Tủ Sách Cành Nam xuất bản. Bắt đầu đăng thơ từ năm 1997.

Ghi chú
Bài ca dao do anh Nguyễn Tiến Văn sao lục và giải thích: Bốn chữ vàng là: Vạn Lịch Thông Bảo. Thông là lưu thông, Bảo là bảo vật, nói về tương quan giữa người và người thông qua vật chất. Đồng tiền Vạn Lịch hình tròn ở giữa là một lỗ vuông dùng để xâu lại với nhau vì 1 quan tiền gồm 360 đồng như vậy. Tròn là trời, tượng trưng cho cõi biết (tri), vuông là đất, tượng trưng cho hành động, tri hành hợp nhất. Ở giữa là cõi không, là chỗ con người thông cảm với nhau, đi suốt cõi trời cõi đất. 360 đồng tiền cũng gợi tới hình tròn 360 độ và 4 góc vuông hợp lại cũng là 360 độ.

 

 

 

Last modified on 07/30/2007 2:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC