ĐỌC THƠ

Nguyễn Thị Khánh Minh

Bài viết Khế Iêm

 

 
 

 

 

 

Buổi Sáng Đọc Báo

Tình cờ đọc một tạp chí cũ
- mà mới - vì sáng nay mới đọc
nó, thật là thích cái cảm giác
mới toanh trên một tờ báo cũ

lật đến những trang cuối, 3 giờ
sáng, một nhà văn tắt thở, một
hàng dài tên bạn bè ông khóc
tiễn, có ba dấu chấm cuối cùng

hẳn để thêm vào những người bạn
chưa quen (chẳng hạn như tôi). Đập
vào mắt là tên một tập thơ
được in ra để kỷ niệm bảy

mươi năm ngày sinh của một Người
Làm Thơ vừa mới mất, những vòng
đen đậm, những vòng đen nhạt, những
vòng xám, cắt đôi chữ “Chớp Biển”

sáng, làm tôi bỗng nhớ mầu manh
vải nhỏ ông cột trên cổ lúc
lang thang.
           …”Lần cuối, Saigon”, những
con chữ in màu trắng rỗng ruột

lôi tôi về một ngày màu trắng
của những miếng vải trắng vướng vào
hàng rào, màu trắng của những rác
giấy trắng bay đầy trên đường phố

màu trắng khác đến thế màu khăn
đỏ, màu trắng của một ban trưa.
”Tên em là Hoa Kỳ”, cái tựa
đề một tác phẩm mới, cũng in

kiểu chữ rỗng, lạnh như không gian
nơi đó, cái tựa đề đứng chênh
vênh không đặt được tôi vào biên
giới để tôi tưởng tượng được trang

của tấm bìa. Tôi chợt mỉm cười
khi đọc “Đón đọc” và-có-thể
”Mua dài hạn Gió Đông”, thích nhỉ
nếu ai đó bán được gió đông,

tên của hiệu cà phê tôi uống
đang rất được ưa chuộng: Trung Nguyên.
Sáng đọc báo, không tôi chỉ đọc
quảng cáo trong khi chờ điện thoại

của bạn và để gửi đi từ
phương này một tiếng nắng reo vì
bạn cứ hay chào tạm biệt bằng
câu: ”Gửi cho chút nắng Saigon”


Buổi sáng bắt đầu một ngày, lúc đầu óc thảnh thơi, giở một tờ báo cũ – mà mới. Ranh giới giữa mới và cũ không có gì phân biệt. Buổi sáng bắt đầu một chuyện đời thường, một thói quen, đọc báo. Nhưng tới đoạn 2, cách bởi một dòng, thói quen bị lật ngược, như đánh thức và hướng người đọc vào một tình huống tình cờ, không còn một chuyện bình thường. Đó là thời điểm, 3 giờ sáng. Không ai có thói quen đọc báo vào nửa đêm như vậy. Đọc cũng không phải chú tâm, chỉ lật trang, cho đến trang cuối, tác giả dừng lại trang phân ưu về một nhà văn mới mất. Nhưng nhà văn chỉ tắt thở, vì tác giả không quen biết và không thấy cái chết của nhà văn. Ba dấu chấm ở cuối danh sách những người phân ưu, như ba giọt mực, nối kết thêm những người không quen biết, và đồng thời như những dấu nối nối nhiều năm tháng sau, tình bạn giữa nhà văn và những người khác. Nhà văn đây là nhà văn Mai Thảo, và trang phân ưu này ở số mùa Xuân , TC Thơ số 12, 1998.

Kế bên trang phân ưu là quảng cáo tập thơ “Chớp Biển” của Bùi Giáng. Hai chữ Chớp Biển màu trắng giữa ba quầng đen, xám, xám nhạt, như ba vành khăn tang, chỉ còn dính nhau như hai ốc đảo. Chữ “sáng” cách một dòng như ánh chớp làm bật lên, đưa tác giả trở về quá khứ, ký ức về nhà thơ. Trang báo kỷ niệm 70 năm ngày sinh của nhà thơ, tưởng như ngay bây giờ nhà thơ vẫn sống, nhưng thật sự nhà thơ mới mất. Sống và chết mập mờ, cái nào trước cái nào sau nhỉ? Nhà văn thì chưa quen, và mới quen, còn nhà thơ thì đã biết từ lâu, nối kết với quảng cáo “Lần cuối Sàigòn”. Nhà thơ đã đi xa rồi, chỉ còn lại Sàigòn, nhưng Sàigòn cũng chỉ còn cái tên trong lòng người, dấy lên cảm xúc từ quá khứ. Những con chữ rỗng ruột, màu trắng trên những tựa đề sách quảng cáo làm nhà thơ liên tưởng tới sự trống rỗng, lòng quặn đau, về một ngày đổi đời, chữ nghĩa văn chương cũ bị ruồng bỏ, như giấy trắng bay đầy trên đường phố. Giữa cái thế giới tang trắng như vậy, màu khăn đỏ của các em học trò, kéo nhà thơ trở về với thực tại, với xã hội mình đang sống.

Trở về thực tại nhưng chừng như chẳng phải là thực tại nhà thơ mong ước. Tên Em là Hoa Kỳ là một tập thơ khác, cũng với những con chữ rỗng ruột, lạnh như không gian lạnh, làm nhà thơ liên tưởng tới những người Việt di dân, cắt lìa đất đai, truyền thống, bây giờ họ sinh sống ra sao nơi đất nước người. Cái cảm giác xa xôi đó bất chợt mất biến như một làn gió mát thổi tới, nhà thơ trở về với chính mình, trở về với “Gió Đông” . Nhưng Gió Đông cũng chẳng phải là gió đông thật. (Một mảng biến cố lại ùa về, 1989 khi bức tường Bá Linh sụp đổ, những người Việt từ Đông Đức ùa sang Tây Đức hoặc tị nạn hoặc sống bất hợp pháp. Gió Đông cũng có nghĩa là người phương Đông mà vào năm 1957, khi sự giao hảo giữa Liên Xô và Trung Quốc còn mặn nồng, Liên Xô phóng thành công phi thuyền không gian Spounik, Mao Trạch Đông bèn tuyên bố, ”Gió Đông sẽ thắng Gió Tây”. Nhưng bây giờ thật sự gió Tây lại đang cưu mang gió Đông.)

Đến đây người đọc khựng lại vì hai dòng sau không ăn khớp gì với những hình ảnh liên tưởng liên tiếp từ trên xuống dưới: tên một quán cà phê Trung Nguyên. Nhưng dòng trước, “nếu ai đó bán được gió đông,” cách một dòng rồi tới dòng kế tiếp, “tên của hiệu càphê tôi uống” như một bước hẫng, chỉ được níu lại bằng một dấu phẩy làm người đọc cứ ngỡ tiệm cà phê tên là “Gió Đông”, nhưng không phải. Chúng ta có cảm giác như giấc mơ đang thò chân bước vào đời thực. Có lẽ đó là hai dòng khá thú vị vì cho thấy bài thơ thật hơn. Nếu bài thơ không có hai dòng này sẽ trở thành tròn trĩnh và hoàn chỉnh. Phải có một sơ xuất nào đó mới phá vỡ được sự hoàn chỉnh đi. Bây giờ thì lại đến phiên người đọc bước hẳn ra khỏi giấc mơ. Tiếp theo đoạn kết, tác giả nói rõ điều đó, vì tuy nói là đọc báo nhưng chỉ đọc quảng cáo, hờ hững, mục đích là chờ điện thoại của một người bạn ở phương xa. Có lẽ vì khác biệt múi giờ nên tác giả phải thức từ 3 giờ sáng để đợi chăng. Mà chờ điện thoại cũng chẳng có gì quan trọng để nói, chỉ nói vài chuyện vẩn vơ mưa nắng, có lẽ cũng chỉ gầy lại chút hư vang từ quá khứ.

Bài thơ phát hiện sự mới lạ trong những cái bình thường tẻ nhạt của đời sống. Chỉ từ vài cái quảng cáo trong một tờ tạp chí, tác giả đã dùng liên tưởng để dẫn dắt người đọc qua rất nhiều hình ảnh ký ức. Thơ Tân hình thức quả thật, phục hồi cái đẹp của thơ căn cứ trên nghệ thuật thơ. Nếu mục đích của văn xuôi là chuyên chở ý nghĩa thì mục đích của thơ là thể hiện cái đẹp. Và phương tiện để thể hiện cái đẹp là những yếu tố thơ như thể luật, nhịp điệu, ẩn dụ, liên tưởng, vần, điệp âm, điệp vận, dòng gẫy, vắt dòng... nếu văn xuôi nghiêng về cái đẹp, chúng ta có thơ văn xuôi (prose poetry), nếu thơ nghiêng về ý nghĩa, chúng ta có loại thơ như văn xuôi (prosaic poetry). Theo các nhà nghiên cứu thơ Hoa kỳ, nửa đầu thế kỷ 20, những nhà thơ tự do, dù thoát ra khỏi thể luật nhưng vẫn còn giữ nguyên âm hưởng của iambic và các yếu tố thơ truyền thống, chỉ thay nghệ thuật tu từ bằng nghệ thuật cú pháp, như Walt Whitman, Ezra Pound Eliot, William Carlos William... Nhưng những nhà thơ tự do nửa sau thế kỷ, vì đã không còn nghe được những âm thanh của thể luật nên nghiêng về nghĩa hoặc vô nghĩa của chữ hơn là nhịp điệu và các yếu tố thơ. Thơ tự do Việt cũng tương tự, hoặc dựa vào cảm xúc chữ, bất kể ý nghĩa hoặc chỉ để chuyên chở ý nghĩa. Nhưng có lẽ cần một lý giải hợp lý hơn, nếu chúng ta nhìn theo những biến đổi của thơ tiếng Anh. Thơ cửa sau thế kỷ 20, thật sự là loại thơ đi tìm ý nghĩa vì ý nghĩa thơ của thời truyền thống đã không còn phù hợp. Phải mất một nửa thế kỷ nổi loạn, đập phá rồi mới ra được vấn đề. Và sau khi hoàn tất, họ mang ý nghĩa mới trở về thể luật để phục hồi giá trị và nghệ thuật thơ. Đối với thơ Việt, vì cách thưởng ngoạn vẫn dựa vào những chữ hay, chữ lạ nên các yếu tố khác gần như bị bỏ qua.

Trở về bài thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh, nhịp điệu của thơ thoải mái, nhẹ nhàng, nhưng đoạn giữa nhịp điệu trở nên dồn dập hơn với sự lập lại của chữ “trắng” như cảm xúc đã đến cao độ vì những ký ức ngổn ngang. Bài thơ sử dụng thể thơ 7 chữ, phù hợp với nhịp điệu không nhanh không chậm, vắt dòng và vắt ý từ đoạn này sang đoạn khác, tạo nên sự chảy trôi vừa liên tục vừa ngắt ngứ, đánh thức và báo hiệu những hình ảnh, màu sắc mới. Sự liên tưởng là yếu tố chính trong bài thơ, tùy theo người đọc, sẽ còn kéo người đọc đi xa hơn nữa, về đời sống trong nước, ở xứ người... Một đặc điểm khác là thơ tân hình thức mọi chữ đều như nhau, không có chữ nào nổi bật hơn chữ nào, những chữ lập lại thì cũng chỉ có tác dụng tạo nhịp điệu. Nói chung, với một thể thơ mới, bài thơ là một thành công, hài hòa các yếu tố. Sự dễ dãi trong sáng tác thơ tân hình thức cũng tạo một thành kiến tai hại cho đó chỉ là văn xuôi xuống hàng, biến thành một loại thơ tự sự. Thơ tự do tiếng Anh cũng thường bị lạm dụng về việc này, bài thơ nếu ráp lại chỉ là một đoạn văn xuôi, chỉ khác là dòng gãy (line breaks). Nhưng dòng gãy cũng như vắt dòng chưa đủ để làm thành thơ. Sự phân tích, một cách đơn sơ bài thơ trên như một bước đầu để người đọc nhận ra cái hay của thơ Tân hình thức Việt. Dĩ nhiên, Tân hình thức còn đa dạng, tùy thuộc tài năng của người làm thơ, luôn luôn biến hóa và không có bài thơ nào có thể làm mẫu mực.

 

Chú thích
Nguyễn Thị Khánh Minh, quê quán Hà Nội, sinh quán tại Nha Trạng, tốt nghiệp cử nhân Luật Khoa 1974. Bài thơ đầu tiên đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong năm 11 tuổi. Hiện định cư tại Hoa Kỳ.

 

 

 

Last modified on 07/30/2007 2:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC