TÂN HÌNH THỨC
MỘT THỂ THƠ MANG TÍNH HỆ HÌNH

Đỗ Lai Thúy


 
 

 

 

mm

 

Một người viết hay người đọc có thế dễ dàng di chuyển từ thể thơ này sang thể thơ khác. Nhưng sự di chuyển sẽ khó hơn rất nhiều, khi một thể thơ đồng thời lại là một thể loại thơ. Bởi, thể loại thì không còn là hình thức thuần túy, hình thức của hình thức, nữa, mà là hình thức của nội dung, tức hình thức mang tính quan niệm. Một quan niệm nghệ thuật khác. Hơn nữa, với “trí nhớ thể loại” (Bakhitin), nó chi phối sâu xa bàn tay, lỗ tai và cả con mắt của người viết lẫn người đọc.

Nhưng, khi nào thì một thể thơ đồng thời là một thể loại thơ, hay ít nhất  cũng mang tính thể loại. Ấy là khi, tôi nghĩ, một tư duy thơ còn đang ở bến này hay đã sang bờ kia “vực thẳm” của sự thay đổi hệ hình. Như, khi văn hóa Việt Nam tiếp biến văn hóa phương Tây, thì xẩy ra sự chuyển đổi văn học từ (đại) hệ hình trung đại sang (đại) hệ hình của thời hiện đại. Rồi, trong khung khổ của (đại) hệ hình văn học của thời đại mới thì có những chuyển đổi từ (1) (trung) hệ hình tiền hiện đại chủ nghĩa sang hiện đại chủ nghĩa và (2) từ hiện đại chủ nghĩa sang hậu hiện đại chủ nghĩa.
        
Cuộc thay đổi hệ hình lần thứ nhất đã khiến các nhà Thơ Mới dám “phá cách vứt luật” (Tản Đà), từ bỏ các thể thơ vần điệu (lục bát, sang thất lục bát) và luật Đường để sáng tạo ra những thể thơ đặc định của riêng mình, như thể thơ 5, 7 hoặc 8 chữ xếp thành những khổ 4 câu. Các thể thơ này mang quan niệm nghệ thuật của thời đại mới, tiếng nói của con người cá nhân trong văn hóa đô thị, nên nó có tính thể loại, thậm chí tính hệ hình. Cuộc “cách mạng Thơ Mới” này đã đưa thơ Việt Nam rời văn hóa khu vực ra thế giới hiện đại.
        
Nhưng Thơ Mới, xét cho cùng, vẫn là thơ tiền hiện đại chủ nghĩa, vì nó vẫn có vần luật, tư duy thơ liên tục, thuộc loại thơ truyền cảm, ngôn ngữ thơ chỉ là công cụ để diễn đạt tư tưởng, tình cảm theo mô hình nghĩa → chữ. Thơ tự do với tư cách là thể thơ tiêu biểu của thơ hiện đại chủ nghĩa không dựa trên vần luật, một thứ âm nhạc bên ngoài, mà trên nhịp điệu, âm nhạc bên trong. Từ nhịp điệu của hơi thở đến nhịp điệu hình ảnh (Nguyễn Đình Thi), nhịp điệu tư tưởng (Thanh Tâm Tuyền), thơ tự do là gợi cảm, tư duy đứt đoạn và vận hành theo mô hình ngôn ngữ chữ → nghĩa. Tuy nhiên, việc tôn sùng cái mới, cái độc sáng, cái mang tính thử nghiệm đã làm cho thơ tự do trở nên tối tăm, khó hiểu và mang tính đặc tuyển. Mỹ học hậu hiện đại (chủ nghĩa) chủ trương hỗn dung nghệ thuật cao và nghệ thuật đại chúng, thơ và hội họa, thơ và văn xuôi, các thể thơ tiền hiện đại, hiện đại, nhằm mang lại cho thơ một sức sống mới, một đời sống ngoài thư viện, hay ngoài phòng thí nghiệm. Thơ hậu hiện đại, bởi vậy, vận hành theo mô hình ngôn ngữ chữ ↔ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Tân hình thức“được/ bị chọn” như là một thể thơ tiêu biểu cho hướng đi này.
       
Một thể thơ mang tính thể loại, hay tính hệ hình thì, khi mới ra đời thì bao giờ cũng bị phản đối. Bởi nó mang một quan niệm thẩm mỹ khác, không quen thuộc, thậm chí có tính “lật đổ”. Thơ Mới phải nhiều năm sau mới được chấp nhận. Và được người đọc cũng chỉ thực sự “tâm phục khẩu phục” trước những thành công nghệ thuật lẫy lừng của những Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… Thơ không vần (một cách gọi “chỉ tay day mặt” thơ tự do) Nguyễn Đình Thi trong Hội nghị Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc 9 – 1949 bị phê chụp kịch liệt đến nỗi sau đó nhà thơ phải chữa thành có vần. Còn thơ tự do Thanh Tâm Tuyền thì, theo Lê Huy Oanh, đã bị độc giả nhiều lần “ném qua cửa sổ”. Vậy mà sau đó thơ tự do đã trở thành phổ biến và giờ đây đã trở lại làm một thể thơ thuần túy và nằm lòng cho nhiều cây bút cũng không mới mẻ gì. Riêng với Tân hình thức thì ngay ở chính thời điểm khởi đầu này sự tiếp nhận nó ở số đông người đọc có phần lạnh nhạt, dửng dưng, giễu cợt, thiếu những phản ứng “dữ dằn” và những kháng cự quyết liệt như đối với Thơ Mới và thơ tự do trước đó. Điều này có thể có nguyên nhân ở hoàn cảnh tiếp nhận lẫn bản thân thể thơ.
       
Thơ Mới 1932 – 1945 và thơ tự do ở thành thị miền Nam 1955 – 1975 ra đời khi Việt Nam đã có sự phân hóa xã hội. Một văn hóa đô thị hình thành và phát triển với chủ/ khách thể của nó là tầng lớp trí thức yêu nước và gần như đồng hành với những trào lưu văn hóa thế giới. Họ chính là kẻ chủ xướng và ủng hộ những cách tân nghệ thuật nhằm thay đổi hệ hình. Sự phản đối Thơ Mới và thơ tự do là ở phía những người thuộc giai tầng khác hay những người còn bị cầm tù bởi hệ thẩm mỹ cũ. Còn hiện nay, sau những xáo trộn xã hội, một lớp người như vậy còn chưa hình thành trở lại. Những cách tân nghệ thuật có tính hệ hình phần lớn là nỗ lực cá nhân, không có sự đồng thuận xã hội, nên chưa có một trào lưu đổi mới mạnh mẽ làm hậu thuẫn.

Hơn nữa, ở Việt Nam, văn chương hiện đại (chủ nghĩa) còn chưa giải phóng hết tiền năng của nó, chưa đi tới thiên đỉnh vòng đời của nó, nên chưa tạo được nhiều thành tựu nghệ thuật cao, thì hậu hiện đại lại chủ trương quay về kết hợp với nghệ thuật đại chúng, một thứ chủ nghĩa chiết trung dù là mới, cũng không thật sự gây được “ấn tượng” với một công – chúng – yêu – cái – mới còn chưa đã. Thơ Việt Nam, nhất là ở miền Bắc trước đây, phải khó khăn lắm mới chữa khỏi được bệnh kể tả thì nay Tân hình thức lại kêu gọi quay về với tích truyện. Đấy là còn chưa kể đến việc Tân hình thức là một thể thơ ngoại một trăm phần trăm. Đành rằng, ở nước ta, do hoàn cảnh lịch sử – xã hội đặc biệt, nên cách tân nghệ thuật nào chẳng ít nhiều ảnh hưởng từ bên ngoài. Nhưng một sự “bứng trồng” trực tiếp như trường hợp Tân hình thứcthì cũng khá hi hữu.
        
Nói vậy để thấy được sự sáng tác và tiếp nhận thơ Tân hình thức ở Việt Nam là vô cùng khó khăn và phức tạp. Bởi thế, tương lai Tân hình thức phụ thuộc nhiều vào sự vận động xã hội, vận động thẩm mỹ của Việt Nam và những cố gắng vượt bậc của cá nhân các nhà thơ. Nghệ thuật, xét cho cùng, chỉ có thể thuyết phục được bằng chính nghệ thuật. Có thể rồi đây, thơ hậu hiện đại Việt Nam sẽ chọn được cho mình một thể thơ khác phù hợp hơn và, do đó, thành công hơn. Nhưng với tư cách là một thể thơ mang tính hệ hình mở đầu cho trào lưu thơ hậu hiện đại ở Việt Nam thì Tân hình thức mãi mãi còn được nhắc đến và biết ơn.
                   
Hà Nội, 18 - 10 – 201
ĐLT.

 

 

 

 

 

Last modified on 10/11/2014 8:00 PM © 2004 2014 www.thotanhinhthuc.org.