NHÀ THƠ CHĂM
VỚI TRÀO LƯU TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Đồng Chuông Tử

 
 

 

 

mm

 

Tóm tắt nội dung
Tham luận gồm ba phần, phần thứ nhất phác thảo sơ lược, để giúp bạn đọc hình dung căn bản về tộc người Chăm, phần thứ hai gợi mở thoáng qua về truyền thống tiếp nhận và sáng tạo của người Chăm. Hai phần này làm bước đệm, bổ khuyết cho vấn đề chính ở phần thứ ba, là chủ đề cốt lõi của tham luận.Người viết cố gắng tập trung phân tích, bình luận về thái độ tương quan trong tiếp nhận và sáng tác của các nhà thơ Chăm trước và sau khi trào lưu Tân hình thức Việt xuất hiện. Cũng như mô tả mặt còn hạn chế của thể loại thơ này, xét trên kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp và của bản thân. Bài viết chỉ bàn đến việc sử dụng tiếng Việt để làmthơ của các nhà thơ Chăm. Các sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của họ xin được nghiên cứu ở những bài viết khác.

Khái lược về người Chăm
Người Chăm là một cộng đồng bản địa cư trú dọc miền trung đất nước Việt Nam đa văn hóa đa sắc tộc, nhưng thiểu số về mặt dân số,chỉ vào khoảng 161.729 người, đứng thứ 14 trên cả nước về số lượng, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.

Thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999, hay nhiều đền tháp Chăm xây dựng từ nhiều thế kỉ trước, bằng gạch nung đỏ rực hiện diện đầy kiêu hãnh, huyền diệu và phong linh trên những ngọn đồi miền trung, mưa nắng vây bủa, bão lụt xối thốc, chính là của cộng đồng này.

Người Chăm từ sâu kín cõi lòng còn tự hào là tộc người có chữ viết xuất hiện sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á.

Người Chăm cũng lặng lẽ cảm kích, hãnh diện khi nhận được nhiều quan tâm, nghiên cứu của các bậc học giả, trí thức trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam về văn hóa, âm nhạc, lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán,…

Về nội tâm và bản tính, người Chăm sống nghĩa tình, hồn nhiên và rộng mở. Người Chăm thích hát, thích múa, có mơ mộng về nghệ thuật và cũng được “trời cho” ở khả năng thơ, ca, nhạc, họa.

Người Chăm đã từng có một gia tài đồ sộ về văn hóa nghệ thuật cổ xưa, theo thời gian chỉ còn đọng lại một phần không đáng kể, ảnh hưởng quyết định đến sự rơi rụng, mai một phần lớn bởi yếu tố lịch sử đặc thù của dân tộc này.

Người Chăm cũng là một tộc người hay buồn bã, buồn bã từ ánh mắt, đến giọng hát và thấm đậm trong thơ, kể cả thơ tiếng Chăm và thơ tiếng Việt đương đại.

Tiếp nhận và sáng tạo ở người Chăm
Vấn đề tiếp nhận và sáng tạo ở người Chăm đã trở thành tính cách ứng xử văn hóa, và cũng đã có một truyền thống nổi bật từ ngàn xưa. Chuỗi rường cột tiếp nhận – sáng tạo – phá hủy, cứ quay tròn, muôn mặt đời sống, từ tôn giáo đến thế tục, quy chiếu khắp mọi ngõ ngách, cá thể lẫn cộng đồng. Đó là cách tiếp nhận và sáng tạo trong việc xây dựng đền tháp, du nhập văn hoá tâm linh của Hindu giáo từ Ấn Độ, cách hòa giải và hóa giải xung đột tôn giáo giữa đạo Islam và đạo Bà La Môn,…ở những thế kỉ trước đó, là những minh chứng sống động và cũng là kì tích chứa đựng muôn vàn huyền thoại.

Gần hơn là cách tiếp nhận và sáng tạo thơ tiếng Việt của các nhà thơ Chăm. Tiếp nhận là tiếp nhận một ngôn ngữ mới, ở thời đoạn xã hội mới, hội nhập và phát triển ở một tầm mức khác. Nhưng không khuôn sáo và tan biến, nghĩa là không hòa lẫn giọng điệu, phong cách. Sáng tạo là cách đan dệt chất liệu cuộc sống đời thường của văn cảnh không gian Chăm đưa vào trong thơ tiếng Việt, tự nhiên mà lạ đẹp. Vừa mới mẻ vừa độc đáo. Vừa bay bổng vừa mặn mà. Vừa hiện đại mà cũngvừa bản sắc.Đó như là cách thức bồi đắp phù sa cho tiếng Việt, văn hóa Việt, màu mỡ và giàu đẹp thêm.Bên cạnh đó, mở mang và dung nạp thế giới rộng mở, đầy tràn hơn trong tâm hồn và bản sắc Chăm, như đã từng hiện hữu trong quá khứ.

Dĩ nhiên có một sự liên kết tiềm ẩn cốt lõi của tính cách tộc người, từ cổ xưa đến hôm nay, trong tiếp nhận và sáng tạo. Nổi bật là trong tiếp nhận và sáng tạo nghệ thuật, cụ thể ở đây là lĩnh vực thơ ca.

Nhà thơ Chăm làm gì trước và sau khi trào lưu Tân hình thức Việt xuất hiện?
Vấn đề đặt ra ở đây là các nhà thơ Chăm đã sử dụng, vận dụng những thể loại thơ nào để thực hành, trước khi trào lưu Tân hình thức Việt xuất hiện?

Trước khi Tân hình thức Việt xuất hiện, câu trả lời đơn giản, đa phần là thơ Đường luật, thơ thất ngôn bát cú, thơ lục bát, thơ tự do ... Từ đặc san Ước Vọng (1968) cho đến 8 số Nội san Panrang (1972), vắt qua cả 14 số Tuyển tập Tagalau, ở thời điểm hiện nay. Thơ lục bát và thơ tự do luôn chiếm ưu thế.

Điều này cũng dễ hiểu.
Ngay bản thân các nhà thơ Việt cũng ưa chuộng hai thể loại thơ này.

Đối với giới sáng tác thơ người Chăm, thơ lục bát Việt, có ưu thế về truyền thống, gần gũi và tương đồng với thơ lục bát Chăm, tâm cảm Chăm từ lượng chữ, tiết tấu và vần điệu. Còn thơ tự do, phát triển rầm rộ trong thế kỉ XX, ít gò bó và dễ tuôn trào, nên được lựa chọn hàng đầu. Sức hấp dẫn của hai thể loại thơ này vẫn còn mạnh mẽ, xanh tươi theo thời gian.

Đến khi Tân hình thức Việt xuất hiện thì sao?
Khai sinh muộn, du nhập trễ, sự đón nhận không mấy nồng nhiệt của các nhà thơ Việt, báo chí văn nghệ trong nước bỏ ngỏ, khiến các nhà thơ Chăm hoang mang, ngạc nhiên và có vẻ như tản lờ đi. Tuy vậy, ít ỏi trong số đó vẫn hào sảng đón nhận, hưởng ứng ra tập thơ về Tân hình thức hẳn hòi, bất chấp sự hạn chế của thể loại thơ mới du nhập.

Du nhập từ nước Mỹ, dẫu có khám phá, phân tích kĩ và áp dụng giỏi, thì sự tương đồng văn hóa cũng chỉ có giới hạn tương đối của nó. Một nền văn hóa sử dụng ngôn ngữ đa âm tiết, có trọng âm rõ ràng, chắc chắn sẽ khác với nền văn hóa, nói tiếng đơn âm, quen dùng vần bằng trắc.

Mặt khác, từ lâu, công việc làm thơ của người thơ phần nhiều phụ thuộc vào tính cảm hứng là chính. Khi cảm hứng thơ, mạch cảm xúc nội tại tuôn chảy không ngừng của người sáng tác quyết định câu thơ, bài thơ, tài hoa và độc mới. Người thơ chỉ chỉnh sửa, gọt dũa và bôi xóa khi cần thiết mà thôi.

Khi chỉnh sửa họ có thể vắt dòng? Vì vắt dòng không còn là chuyện lớn nữa, có khi đã cũ. Họ cũng sẽ dùng ngôn ngữ đời thường? Vì ngôn ngữ đời thường cũng chỉ là chuyện nhỏ và không mới. Thế giới đã thể hiện, ở đây khía cạnh nào đó được hiểu, trào lưu này hiện tồn nhờ khả năng tiếp thu và sáng tạo từ các tinh hoa thế giới.

Riêng kĩ thuật lặp lại và tính truyện, phần nào khiến cảm hứng bị cụt đi. Tính truyện, dễ rơi vào lan man, bài thơ thành dài ngoằng, nhạt và tạo cảm giác ngán ngẩm cho người đọc thời đại wifi, internet không dây. Thường thì những nhà thơ ít tài sẽ phạm phải khi xử lí nó.

Nhà thơ Chăm hôm nay đã nhập cuộc thơ với một tâm thế mở và mượn tiếng Việt để kể những câu chuyện Chăm, đời thường mà quyến rũ, bản sắc mà hiện đại. Tập thơ Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ Tân hình thức của thi sĩ Inrasara, xuất bản trong nước năm 2006 là một ví dụ điển hình, chính ngạch, mở đường và vẫy gọi sự đồng hành. Bằng cách ấy, hay nhiều cách khác sau này, đánh động và khuyếch trương một trào lưu mới mẻ là hết sức cần thiết.

Không chỉ riêng nhà thơ Inrasara, nhiều nhà thơ trẻ Chăm đã thử sức với thơ Tân hình thức. Nhưng cho đến thời điểm này họ vẫn chọn lựa sự im lặng là một chuyện lạ. Ngay cả Tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu văn hóa Chăm Tagalau có tiếng tăm trong cộng đồng này, cũng chưa thấy công bố một bài thơ nào của họ.

Nói họ không làm thơ Tân hình thức là không phải, bởi cá nhân tôi đã được “mục sở thị” những tác phẩm đơn lẻ của họ. Ngay bản thân tôi, cũng ôm ấp nhiều dự định ở trào lưu này. Tồn tại chăng là một thái độ khiêm nhường, dò xét, hoặc đang truy tìm một giá trị bền vững khác. Cấp thiết và khẩn trương hơn, nhằm phục vụ lợi ích thiết thực của cộng đồng. Lại là một chuyện lạ nữa. Người Chăm có rất nhiều chuyện lạ vẫn chưa kể hết với thế giới bên ngoài, đó là tâm tính tộc người đã ăn sâu vào máu thịt.

Họ chịu dú mình trong bóng tối bất kể thời gian ngắn dài. Nhưng cách xuất hiện của họ rất đặc biệt. Nhiều thi phẩm của các nhà thơ Chăm gần hai thập niên qua, khi điều kiện cho phép ấn hành, cho thấy rõ điều đó. Có thể sự đốn ngộ tôn giáo chi phối ở khía cạnh nàychăng ?.

Mặt khác, tâm cảm của người Chăm là tâm cảm của người xuất thế, xem nhẹ của cải vật chất, mỉm cười với những giáo lí, học thuyết, trào lưu. Tâm cảm này biệu hiện rõ nét nhất, ở tầng lớp tu sĩ Bà La Môn, nghệ sĩ dân gian, trí thức và thế hệ các nhà thơ. Họ là những người canh giữ các giá trị tâm linh tôn giáo, bản sắc và tâm hồn một tộc người.

Họ thể hiện nét mỉm cười như lơ đễnh ấy, chỉ để nói lên sự ngưỡng mộ, chúc phúc trên đoạn đường dài chông gai, và nhắn nhủ về một khả năng giải thoát khỏi hình thức, đã được chiêm nghiệm hàng bao thế kỉ. Chắc chắn với căn tính tiếp nhận vốn có, nhà thơ Chăm sẽ soi rọi lại mình,thầm lặng sàng lọc, tiếp biến cho phù hợp với tính cách, tâm tạng, văn hóa.

Ngôn ngữ Việt với các nhà thơ Chăm, buộc họ phải mở thêm một cánh cửa tâm thức khác, phong phú và đa dạng hơn trong ý tưởng, tưởng tượng và diễn đạt.

Tân hình thức Việt với các nhà thơ Chăm là một chân trời mới, đại dương mới, xanh thắm, đầy nắng mai và lủng lỉu niềm tin yêu.

Tân hình thức Việt đã “trở về” trong lặng lẽ. Miệt mài trong lặng lẽ. Nổi chìm cũng trong lặng lẽ.

Mãi đến năm 2012, tạp chí Sông Hương, mới có chuyên đề về trào lưu thơ Tân hình thức Việt, sau đó làm trang đặc biệt về nó? Và phải mất gần một năm sau, cũng chính tạp chí Sông Hương quyết định tổ chức Hội thảo thơ Tân hình thức mang tầm vóc quốc tế, quy tụ nhiều văn nhân kì tài Việt Nam và Thế giới.

Bất chấp cái nhìn dè dặt, phân tranh của sương khói, thời gian qua sự chững lại có khi chỉ là hình ảnh khác, dưới đống tro than âm ỉ, mong chờ cơn gió lành thổi đến, sẽ khởi bùng ngọn lửa sáng tạo tiếp nối. Trỗi lên sức sống mới, mạnh mẽ và rực sáng hơn.

Plei Pajai, trung tuần tháng 10/2013.

 

 

 

 

Last modified on 12/11/2014 8:00 PM © 2004 2014 www.thotanhinhthuc.org.