GÓP Ý TRONG TUẦN

Kỳ 5 (15/11/07)

 

 
 

 

 

 

1.Tại sao lại ngôn ngữ đời thường? Bạn nghĩ sao về điều này?

2. Góp Ý khác

 

Việt Hà

Đó là thứ ngôn ngữ xảy ra trong mọi sinh hoạt, cuộc sống thường nhật của mỗi chúng ta, vì vậy ai cũng đều có thể cảm nhận thấy. Tuy nhiên ngôn ngữ đời thường khác với ngôn ngữ dân dã, nhưng không ít người đã ngộ nhận đó là thứ ngôn ngữ đời thường, vì vậy nhiều tác giả (cả trong lẫn ngoài nước) đã không ngần ngại khi đưa tất cả những ngôn ngữ dân dã đó vào trong tác phẩm của mình và ngỡ đó là một hình thức cách tân ngôn từ (!?). Xa hơn nhiều tác giả đã biến ngôn ngữ đời thường thành những ngôn ngữ bác học, khúc triết... khiến người đọc hoặc phải vò đầu bứt tai, hoặc phải lật tìm nghĩa từ trong những quyển từ điển thật đồ sộ mới hiểu được thâm ý của tác giả. Trong cuộc sống quay cuồng của xứ công nghiệp hiện nay người đọc thơ vốn đã ít, người yêu mến và muốn nghiền ngẫm thơ ca lại càng ít hơn, do vậy khi vấp phải những bài thơ hoặc quá uyên bác, hoặc quá dân dã như trên, chắc chắn bạn đọc sẽ sinh nản và họ sẽ đi tìm những đề tài thích hợp hơn. Thơ nói chung đã và đang đứng trước một cuộc thử thách sinh tồn rất ngặt nghèo cả về thể loại lẫn ngôn ngữ. Tân Hình Thức đã mở ra một xu hướng sáng tác mới. Những nhà thơ THT sẽ được "thả phanh" để ngụp lặn trong bầu không gian thơ ca của mình, và tôi nghĩ khi ai đó đã nghiền THT rồi, chắc chắn sẽ không muốn trở lại với thơ vần.

Trở lại „ngôn ngữ đời thường“ theo tôi cảm nhận nó là thứ ngôn ngữ dễ đi vào lòng người nhất (tâm cảm của người viết hòa chung với người đọc), nhưng làm sao để những người bình thường nhất có thể cảm nhận được những „ngôn ngữ đời thường“ ấy trong những tác phẩm thơ ca nói chung và THT nói riêng đó là một thách thức dành cho những người yêu mến loại hình nghệ thuật này.

 

Nguyễn Đăng Thường
Đôi điều không cần nói với Thơ

Trong nước, giữa những tiếng than ai oán của dân oan xuống đường khiếu nại từ ba miền — và cái vui là vui thiệt khi tỉnh ngủ lúc tàn ca của các nàng kiều hà nội đu bay—và những giọt nước mắt khô chan cơm nguội của các gia đình nạn nhân sập cầu cần thơ — và những thành tích thành tuồng dài hơn cửu long giang chưa cạn dòng mà biển đông đã dậy sóng, của một đất nước càng ngày càng rực rỡ thăng hoa đào nhiệm, chóa phượng vĩ cuồng, và nhất là từ một chính quyền trung ương vì dân vì nước ngày ngày lo tồn kho đô la đỏ để dành xây biệt thự hạ long cho nòi giống tiên rồng nghỉ mát.


Nguyễn Đăng Thường

__________

Nhà Xuất Bản
GIỌT SƯƠNG HOA
Tuyển Tập Thơ Tân Hình Sắp In
(Thơ Hay)

__________

TRUYỆN KIỀU HÀ NỘI
DÂN OAN NGÂM KHÚC
ĐÀI LOAN PHỤ NGÂM
THIẾU PHỤ NAM HÀN
THU CẢM CÚM
QUA ĐÈO NGANG TỨC NGỰC
THĂNG LONG THÀNH TRẶC CỔ
HỊCH CÚM GIA CẦM
VĂN TẾ CÁ SẤU SỔNG CHUỒNG
MẤY VẦN THƠ LỬA ĐIÊN
ĐIẾNG HỒN CA
TIẾNG THU TIỀN
GÁI QUÊ ĐIẾM THÀNH
CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG TRỐI
LỠ BƯỚC SANG CAM PU CHIA
TÂM HỒN TÔI TỚ
THƠ SAY XÌ KE
TIẾNG ĐỊCH SÔNG Ô NHIỄM
THÔN CA NHẠC RỐC
HUẾ LÀ THƠ MỞ MIỆNG
ĐIÊU TÀN THỦ THIÊM

 

Nguyễn Tất Độ

Khi người ta có một nguồn kho báu dồi dào, dùng muôn đời không hết thì dại gì mà không dùng… vấn đề còn lại chỉ là dùng như thế nào thôi! Người khôn là người biết dùng những thứ đời ban tặng để đưa nhau đến gần Chân, Thiện, Mỹ… kẻ dại thì dùng chúng để lót đường tới địa ngục.

 

Nguyễn Đăng Thường
Đôi điều không cần nói với Thơ (Thế nào là một bài thơ hay?)

Trong nước, giữa những tiếng than ai oán của dân oan xuống đường khiếu nại từ ba miền — và cái vui là vui thiệt khi tỉnh ngủ lúc tàn ca của các nàng kiều hà nội đu bay — và những giọt nước mắt khô chan cơm nguội của các gia đình nạn nhân sập cầu cần thơ — và những thành tích thành tuồng dài hơn cửu long giang chưa cạn dòng mà biển đông đã dậy sóng, của một đất nước càng ngày càng rực rỡ thăng hoa đào nhiệm, chóa phượng vĩ cuồng, và nhất là từ một chính quyền trung ương vì dân vì nước ngày ngày lo tồn kho đô la đỏ để dành xây biệt thự hạ long nòi giống tiên rồng nghỉ mát.

Trên cái mạng lưới ế văn, có một thi nhân không biết thuộc miền đất nào của hãy cười đi hỡi quê hương yêu quý, có một chàng thi sĩ nghiêm nghị trầm ngâm "vươn tìm mặt trăng" với "đôi tay thoát thân", bên cạnh những cái tin đôi mách của tờ báo tả khuynh The Guardian, diễn đàn lý tưởng của các nhà "chủ nghĩa xã hội caviar-champagne", chống mỹ cực đoan từ thời chiến tranh việt nam, các phương danh như "harold pinter", "colin redgrave", "john pilger", "tariq ali"... —là những chùm thơ "thôi miên", "nhịp gốm", "không đề", "mây chiều", "mùa đông phương trinh tiết", "lũng đoạn đêm", "đêm buồn bỏ lại", "dưới vầng trăng bạc tình", "rêu phong", "nghịch cảm", "đàn một khúc trăng chảy tràn mắt ướt", và "trái đất mang hình giọt nước mắt", mà tôi chưa có thì giờ thưởng thức, nên chỉ xin ghi lại gần đúng theo thứ tự trên dưới trước sau để cho thấy cái đỉnh cao trí tuệ của thơ Việt ở đầu thế kỷ hăm mốt.

Tuy nhiên, không cần thành thực nhưng cũng cứ nói thiệt cho bà con lối xóm mình nghe chơi, tui cũng có tò mò mở ra xem thử "chùm thơ" mới nhất "Viết trong ngày sinh" (thứ ba, 06/11/2007) và tui kinh hãi giật mình khi đọc câu thơ tình này: "cô tiên xanh!... ngày bình yên nhất Hoàng đế Quang Trung rước dâu về quê nội. / ba mươi sáu kiệu vàng lọng xanh long lanh đóa sen thạch bích. Át-ti-la em lướt nhẹ không mênh mông màu nắng. Váy dài váy ngắn áo đỏ áo xanh cào cào bay nhanh chuồn chuồn bay thấp..." Nàng tiên xanh At-ti-la này là ai? Dù gì thì chắc nàng cũng không thể là "attila the hun, 406-453" (attila tên hung nô) một lãnh tụ man di khát máu, "chân giẫm tới đâu cỏ không thể ngóc đầu ở chỗ đó".

Sự sùng bái trăng và ánh trăng — ánh sáng mặt trời phản chiếu — trong giới thơ thẩn trẻ và không trẻ của ta, đã tới mức buồn cười. Họ yêu trăng thực sự, hay đó chỉ là một thói quen — đã trở thành tật xấu — khi làm thơ? Trăng là bột ngọt để tăng hương vị cho một món ăn tồi tệ khó nuốt? Ở loại thi nhân thoát tục này, mà trần thế đối với họ chỉ là cõi trú tạm, thể hiện một sự miệt thị nhân loại, yếm thế, tối đa. Một cô gái, nếu mỹ miều, thì không thể xinh như con người mà phải đẹp như tiên. Khi trăng và ánh trăng xuất hiện trong cổ thi Trung Hoa trên những lầu hoàng hạc, của các ông Đỗ ông Lý, vẻ đẹp của trăng dù còn tươi trẻ đáng được ngắm nhìn, nhưng nó cũng đã là biểu trưng của mộng mơ, quay lưng lại với cuộc đời vất vả trước mắt, của các thi nhân móng tay dài trốn tránh lao động, chỉ thích uống rượu nhìn trăng mơ tưởng những chuyện hão huyền. Ngày nay vẻ đẹp của trăng đã phai tàn, lộ liễu, vì những cận ảnh do các phi thuyền không gian mang về. Hằng Nga mặt rỗ, cơ thể bụi bặm vì không có nước tắm. Và ánh trăng ngoài đồng nội hay trên đường phố hôm nay không những không thể che đậy những cái gớm ghê phơi bày dưới ánh mặt trời mà chỉ khiến chúng thêm quái đản, gái ăn sương trong ánh đèn mờ ảo dưới ánh trăng lu như lũ chuột thấy phó mát bò ra đường mỗi khi xuất hiện một khách chơi hoa cỡi xe máy chạy tới. Dù muốn dù không trăng đã trở thành một cục bướu, để tránh nói là ung thư, trên cơ thể của thơ.

Tôi không thích trăng, nói chi say đắm. Ờ thì trăng và ánh trăng xanh vàng trắng, đôi khi cũng bắt mắt trắng vàng xanh của tôi, vài giây. Thế thôi. Trăng thuộc về đêm. Mà với tôi, đêm là để ngủ hay để làm tình, và đọc sách (tục) và coi phim (dâm) và nghe nhạc (sến) những khi gặp hứng. Nói tóm lại, đêm, là để làm những cái chuyện tạp nhạp nói trên, mà ta vẫn có thể làm ban ngày — như thiếu nữ ngủ ngày gây đậm đà ấn tượng nhục dục của hồ nữ sĩ — làm ban ngày thoải mái và thú vị hơn, mà lại đỡ hao đèn bớt tốn điện. Với tôi, đêm tối và ánh trăng luôn luôn gợi nhớ tới những câu chuyện trộm cướp bất lương, án mạng giết người rùng rợn, tiếng chó tru tiếng sói hú, người này hóa sói, kẻ kia hiện nguyên hình quỷ hút máu, há mồm cộng đỏ lòm nhe nanh hồ trắng toát, bá tước dracula trong lâu đài trung cổ, cú dơi bay loạn xị, gián chuột bò ngổn ngang. Đó là chưa kể những đêm trăng liêu trai gái chồn xuất hiện hút tinh dịch của các anh học trò dâm đãng.

Dân tộc nhà thơ vẫn còn không ít — nếu không muón nói là đa số — thi nhân ngộ nhận rằng đã có sẵn một ngôn ngữ thơ trữ tình vĩnh cửu, những hình ảnh thơ mộng vĩnh hằng, mà người làm thơ chỉ cần lắp ráp chép lại y chang, là sẽ có ngay một bài thơ hay, đọc liền. Thơ hay, theo định kiến bất lay chuyển của các thi nhân này, là thơ tỉ tê về tình yêu đau khổ, về cuộc đời hoang vắng, và các thứ lãng mạn khác. Nhưng nghĩ cho cùng thì hình như đó là cái nét chung của cả một dân tộc: thích mơ mộng viễn vông, ưa sùng bái, mê tín, dị đoan, tế lễ, dựng miếu, xây lăng. Đạo phật, đạo cao đài, đạo hòa hảo, đạo bà la môn, bên cạnh những dạo dừa, đạo chuối, đạo xôi, hay đạo tặc, đạo chích, đạo văn, đạo dụ, đạo mạo. Vân vân và vân vân. Đồng chí dựng lăng bác. Trí thức đắp lăng kiều. Bợm nhậu bày lăng cẩu. Ôi, kể tới lễ rước võng bà chúa xứ đón kiệu tướng cá voi, vẫn chưa hết. Thử hỏi: thơ tố hữu và công ty là gì, nếu chẳng phải là những bài thơ tình lãng mạn trữ tình, sùng bái một cá nhân và tôn thờ một tôn giáo mới?

Ở hải ngoại, website tân hình thức của giáo trưởng khế iêm đã gởi đến các thi hữu câu hỏi khá hốc búa sau đây cho mục góp ý: "Thế nào là một bài thơ hay?" Ừ nhỉ, thế nào là một bài thơ hay? Và hay cho ai? Ở giai đoạn nào? Ở thời kỳ nào? Vân vân và vân vân. Kẻ hậu sinh này rất muốn hồi âm góp ý, muốn lắm chứ. Nhưng suy gẫm mãi vẫn chưa tìm ra được một câu trả lời thỏa đáng, nên đành phải chờ các bậc cao minh .

 

Khế Iêm

Bài này có thể coi như lá thư của ban điều hành.

Thỉnh thoảng tôi nhận được vài bài thơ tự do của thân hữu, và cũng từng đọc ở đâu đó những bài thơ tự do mà tác giả gọi là thơ tân hình thức. Điều này có lẽ là do sự hiểu lầm, theo nghĩa đen của chữ “tân hình thức”, và các bạn đó đã không tìm hiểu cặn kẽ loại thơ này. Tôi chỉ nói về phần tân hình thức Việt. Đây không phải là một chủ nghĩa hay trường phái gì, hiểu theo những thuật ngữ phương Tây. Gọi là tân hình thức, là do tinh thần mới mẻ của dòng thơ này (thay nghệ thuật tu từ bằng ngôn ngữ đời thường…v…v…), và dùng thể thơ Không vần để thể hiện tinh thần đó.

Tôi đồng ý với nhà thơ Tunisia là thơ tự do không có tiêu chuẩn hay, và thay vào đó là tiêu chuẩn mới. Nhưng từ DaDa, Siêu Thực, cấu trúc thơ nơi các phong trào tiền phong Mỹ… những cái mới đã được khai thác cùng kiệt, để không còn gì mới. Thơ chỉ còn trơ lại đề tài, chính trị hay tính dục để lôi kéo người đọc. Trong khi thơ vần điệu chỉ có thể làm hay chứ không làm mới được. Vì làm mới là hỏng.

Tôi cũng nhận ra điều này, thế hệ những nhà thơ Tiền chiến (1930- 45), sống ở một thời tuy đất nước bị Pháp đô hộ, nhưng  vẫn thanh bình, nên phương tiện thể hiện là thơ vần điệu đã được phát huy đến múc cao nhất. Đến thập giữa niên 1950, đất nước bị chia đôi, lòng người phân tán, tiếp theo là đàn áp chính trị ở miền Bắc, chiến tranh tàn phá ở miền Nam, cho nên thơ vần điệu không còn thích hợp, và thay vào đó là thơ tự do.

Lấy thời điểm 1975 là năm chấm dứt chiến tranh thì thấy rất rõ: Thế hệ thời chiến tranh ở cả hai miền, và thế hệ hậu chiến tranh (sinh ra trước 1975 và trưởng thành trong thời kỳ đóng cửa ở trong nước), thơ tự do là phương tiện chính của họ. Loại thơ này dễ dàng chuyên chở cá tính chiến đấu, đối đầu, nổi loạn, phản kháng, phá hủy… của thời chiến tranh. Đặc biệt với thơ của thế hệ hâu chiến, sau 1975, không có gì ngoài những ám ảnh về chính trị và những đề tài gây hấn như tính dục, cả ở trong cũng như ngoài nước.

Tóm lại, thơ vần điệu là phương tiện thể hiện của thế hệ Tiền Chiến. Thơ tự do là phương tiện thể hiện của thế hệ thời chiến và hậu chiến tranh Việt nam.

Đến thập niên 1980 ở trong nước, thế hệ sinh ra và lớn lên ở thời mở cửa, tiếp nhận thông tin qua internet thì sao? Họ cũng sống trong lúc đất nước ở thời bình, nhưng không còn bị nô lệ như thời Tiền chiến, mà lại tiếp cận với nền văn minh hiện đại mang tính toàn cầu hóa. Tâm tư, tình cảm của họ, dĩ nhiên phải khác với những thế hệ trước họ rất nhiều. Cá tính xây dựng của thời bình phù hợp với phong cách hồi phục lại nghệ thuật thơ, và phải bằng một phương tiện hoàn toàn mới.

Tinh thần thơ tân hình thức rất gần với những thế hệ sinh ra sau thập niên 1980 này. Và như thế, thể thơ Không vần, trong một  tương lai gần có thể trở thành phương tiện biểu hiện của họ, chứ không phải thơ vần hay tự do. Nhưng nếu có người hỏi rằng, tại sao thơ vần và thơ tự do vẫn có người dùng, và có khi còn rất nhiều người dùng nữa, trong khi thơ tân hình thức bây giờ vẫn chỉ là một thiểu số? Xin trả lời: thơ là một bộ môn khó, nên số đông không quan trọng, vấn đề là người làm thơ có tạo được niềm tin nơi người đọc hay không.

Nói rõ thêm, trường phái hội họa Trừu tượng Biểu hiện (Abstract Expressionism) ở Mỹ thập niên 1950 được coi như đỉnh cao của hội họa trừu tượng hiện đại và cũng chấm dứt luôn trường phái này. Nhưng đến nay còn rất nhiều họa sĩ vẽ và vẫn có người thưởng ngoạn loại tranh này. Cũng giống như trong một xã hội, có người già, người trung niên và người trẻ tuổi. Không có xã hội nào chỉ toàn người già, người trung niên hay người trẻ tuổi. Thơ cũng vậy, vẫn đề huề với nhiều thể loại khác nhau.

Như vậy thì thơ Việt đã có một tiến trình rất đẹp.

Trở lại với chuyện tại sao thơ vần không thể làm mới? Thí dụ như lục bát là thể thơ đã có từ ngàn xưa, luật đơn giản chỉ là câu 6 chữ, câu 8 chữ và vần, nhưng đã tạo ra được biết bao bài thơ hay, Truyện Kiều chẳng hạn. Luật lệ đã có sẵn, chỉ làm sao cho hay thôi, về ý tưởng và nhạc tính. Nếu không thể làm hay hơn những người đi trước, rồi bày ra chuyện cách tân như cắt chữ cho xuống hàng thì chỉ làm cho vui mắt.

Với thể thơ Không vần cũng vậy, đã có sẵn luật lệ rồi, vắt dòng và lập lại, lồng trong những thể thơ 7 chữ, 8 chữ và lục bát Việt nam, cứ thế mà làm, sao cho hay về nội dung và nhịp điệu. Nhưng có lẽ giống như lục bát, dễ làm và khó hay nên một số bạn đã xé rào, viết câu dài câu ngắn chẳng khác nào thơ tự do rồi nhập nhằng gọi là thơ tân hình thức.

Cuối cùng thì, tôi mong các nhà thơ tân hình thức, đang thực hành, và có nhiều kinh nghiệm, hãy tham gia góp ý nhiều hơn để làm sáng tỏ những điểm còn mù mờ của loại thơ này. Tôi cũng xin cám ơn hai nhà thơ Linh Vũ và Tunisia, đã không bỏ kỳ góp ý nào, vì thế diễn đàn này mới tiếp tục được, không thì héo.

 

Linh Vũ

Để trả lời câu hỏi này tôi xin mượn vài dòng của Thi Sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh đã góp ý trong câu hỏi vừa qua: “... Bài thơ nào mà khi vừa đọc xong lập tức nó khiến tôi buộc miệng: hay! Nên theo tôi, một bài thơ khi vừa đọc xong nó lay động người đọc tức thì không qua sự phân tích của lý trí, thì đó là bài thơ hay...” và một câu khác... “Người làm thơ còn cần phải nhìn, nghe, và sống với dòng chảy của thời mình đang sống - không chỉ đề cập đến những vấn đề, sự kiện mà còn dùng ngôn ngữ của thời đại.”

Tôi rất đồng ý với Thi Sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh về điều này. Nếu một bài thơ mà dùng nhiều điển tích quá, người đọc sẽ không hiểu, hoặc hiểu rất ít. Điều này không chứng minh là chữ nghĩa đầy bụng, mà có khi lại nghèo ngôn ngữ, ảnh hưởng văn học ngoại lai, khoe chữ, vay mượn.v.v… Còn dùng nhiều chữ văn hoa bóng bẩy, không thực tế với đời sống, thành sáo ngữ, vô nghĩa, không sáng tạo, nhàm chán v.v…

Tôi xin đưa ra một vài ví dụ mà các bạn trẻ đã tranh luận với nhau qua truyện Kiều của Nguyễn Du.

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da...

(tả sắc đẹp của Thúy Kiều)

Các bạn trẻ đó không biết tí gì về Hán văn, hay điển tích và không tưởng tượng nhiều như Cụ Nguyễn Du,  vậy thì các cô cậu sẽ hiểu như thế nào, nếu chúng ta giải thích thì các cô cậu cho là thiếu thực tế... không đúng... dị hợm...

Hay tả Từ Hải.

Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao...

Chúng ta thử lấy thướt mà đo, hãy tưởng tượng như Nguyễn Du thì Từ Hải như thế nào?! Ôi chao... (Tôi đồng ý truyền Kiều là kiệt tác ở thời đại chúng ta nhưng có thể không hấp dẫn ở thời đại hậu duệ).

Và một vài câu thơ dưới đây các cô cậu cho là hay, là tuyệt vời.

Tôi trở về thành phố
Một ngày không thấy em
Hai ngày không thấy nốt
Tôi đành bỏ đi...
Tôi trở về thành phố
Làm trẻ thơ một mình
Mỗi ngày đi ngã trái
Bờ sông nước mông mênh...

Tác giả dùng ngôn ngữ rất ư là thường nhưng làm người đọc thấy được cả sự đợi chờ, cô đơn, buồn bã, thất vọng. v.v...

Ngôn ngữ đời thường chúng ta sử dụng mỗi ngày trong cuộc sống, ai cũng có thể hiểu được, dù bất kỳ tầng lớp nào trong xã hội. Ngôn ngữ đời thường đã làm người ta yêu thương, giận hờn, buồn vui, thông cảm, quật khởi.v.v… thì tại sao chúng ta không thể dùng nó trong thơ, trong văn chương. Ngôn ngữ đời thường thực tế, dễ hiểu và gần gũi với đời sống con người mà không cần phải tìm kiếm đâu xa.

Góp ý khác

Đây chỉ là những ý nghĩ thô thiển của riêng tôi, mong quí vị thông cảm. Và sau đây tôi xin có một đề nghị, là chúng ta nên góp ý thật nhiều để trao đổi và học hỏi lẫn nhau, không có ai hay, không có ai dở cả. Ý kiến là điều phát biểu của mỗi cá nhân, để tìm hiểu, trao đổi, học hỏi, góp ý cùng bước lên chỗ tiến bộ chung. Các nước Tây Phương họ luôn tôn trọng ý kiến của mọi người cho dù là ý kiến sai hay tầm thường. Họ không bao giờ phê bình quá nặng lời hay đánh giá quá thấp trình độ của người khác. Chính vì thế mà diễn đàn nào cũng được nhiều người tham gia, góp ý một cách nhiệt tình. Kết quả họ tiến bộ, văn minh và nhiều sáng tạo hơn chúng ta.

 

Tunisia

“Ngôn ngữ đời thường”. Tiếng Anh là “everyday language”. Như vậy “ngôn ngữ đời thường” có khác gì “ngôn ngữ thông thường” không (ordinary language)?

Ngôn ngữ thơ là vấn đề được đề cập và bàn luận từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, bởi vì mỗi thời có quan niệm khác nhau. Thời cổ đại, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ nói thông thường, với những từ cụ thể, dễ hiểu. Sau đó vì nhu cầu phát triển về tâm linh (tôn giáo), triết học, khoa học… những từ trừu tượng được tạo ra để diễn đạt. Từ trừu tượng càng ngày càng nhiều, được tiếp nhận qua lại từ ngôn ngữ này tới ngôn ngữ khác. Như tiếng Anh được vay mượn từ tiếng La tinh, tiếng Pháp… tiếng Việt với từ Hán Việt…

Thơ vì thế, cũng tiếp nhận những từ trừu tượng để diễn đạt những quan điểm về tôn giáo, triết học… và cũng để đáp ứng nhu cầu của lớp người đọc có học và trong giới cung đình. Thơ xa dần đời sống, và biến thành trò chơi của những người nhàn tản. Thơ tiếng Anh, cho tới thế kỷ 18, vẫn còn là những chữ thanh nhã, diễm lệ, chọn lọc, không liên hệ gì tới ngôn ngữ nói thông thường. Thơ Việt cổ điển đầy điển tích và từ Hán Việt, cho tới thơ Tiền chiến ngôn ngữ cũng rất bóng bảy, lịch thiệp…

Nhưng thơ tiếng Anh, bắt đầu thời Lãng mạn với Wordsworth, đã gần gũi với ngôn ngữ thông thường. Trở ngược lại thời cổ đại, tiếng Sanskrit, trong giao tiếp thường ngày có rất nhiều vần, matr part (mẹ và cha), britramitra (anh em và bạn)… chẳng hạn. Có nghĩa là thơ là ngôn ngữ đời thừơng và ngôn ngữ đời thường là thơ.

Như vậy, ngôn ngữ thơ thật sự là gì? Thí dụ như thơ thiền, nếu người làm thơ chỉ dùng toàn những chữ của thiền để làm thơ, thì đó là loại thơ chữ về thiền, chứ chẳng phải thiền cũng chẳng phải thơ. Những từ trừu tượng về tôn giáo và triết học… cũng vậy, nên trả lại cho các bộ môn đó, vì thơ không phải chỉ là chữ, mà là thể hiện cảm xúc, tư tưởng trong cuộc sống. Tôn giáo hay triết lý cũng là một phần của đời sống. Dùng ngôn ngữ thông thường để thể hiện tinh thần tâm linh hay triết lý, thì mới thành thơ, vì nếu không sẽ chỉ toàn chữ chứ không thấy thơ. Hơn nữa những từ cụ thể mới chính là ngôn ngữ nguyên ròng của mỗi ngôn ngữ, còn những từ trừu tượng là do vay mượn và lai từ những ngôn ngữ khác.

Dù cho tương đồng, tôi thích dùng tên gọi “ngôn ngữ đời thường” hơn. Vì “ngôn ngữ đời thường” bao gồm luôn cả những câu nói trong lúc giao tiếp thường ngày.

Góp ý khác

Khi chúng ta làm thì thảo nào cũng có sai sót. Muốn không sai sót, chỉ có cách không làm gì. Mà đời sống thì cuồn cuộn, nếu không làm gì cả chẳng lẽ cứ đứng mãi ở bên lề sao? Như những kỳ trước, trong lúc hăng say góp ý, tôi đụng nhằm nhà thơ Linh Vũ. Nhưng bài đã gửi đi và đưa lên rồi nên không rút lại được. Tôi nghĩ nhà thơ Linh Vũ sẽ rầy la sao đó. Chờ không thấy anh nói gì, có lẽ anh không chấp những lỗi nhỏ nhặt đó nên tôi cảm thấy yên tâm, rằng diễn đàn này có cơ khởi sắc. Vì như thế mọi người mới dám góp ý thẳng thắn, và không phải dè chừng. Những góp ý của tôi cũng không mới lạ gì, là do cóp nhặt nơi những tiểu luận trên trang web này hoặc đâu đó trên internet, để giúp vui các bạn. Nhưng có điều không công bằng, là tôi góp ý hoài cho các bạn đọc còn các bạn lại thụ động, im như tờ, không viết gì cho người khác đọc. Tôi biết có diễn đàn về thơ Mỹ, người tham gia muốn post thơ của mình lên phải  có ít nhất hai góp ý về những bài thơ của các bạn thơ khác. Như vậy mới sôi nổi và sống động. Ai cũng hứng khởi và không thấy bị thiệt thòi.

 

 

 

 

Last modified on 11/15/2007 6:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC