NHẬN ĐỊNH VỀ GIẢI THƠ KỲ 2 - 2007

Ban Tuyển Chọn

 

 
 

 

 

 

Nếu Giải thơ Tân hình thức kỳ 1 dễ dàng tuyển chọn và trao giải thì kỳ 2 lại có khá nhiều điều cần phải làm sáng tỏ. Câu hỏi đầu tiên là lấy tiêu chuẩn nào để xét duyệt và đánh giá bài thơ dự thi. Bài thơ dĩ nhiên phải đạt tiêu chuẩn nào đó để có được một giá trị. Nhưng đây lại là một thể thơ quá mới, chưa có những tiêu chuẩn nhất định như thơ vần điệu trước kia. Như vậy, rõ ràng, giải thơ tân hình thức và ngay cả ban tuyển chọn và người dự thi cũng chỉ là những yếu tố thể hiện tiến trình tìm kiếm tiêu chuẩn giá trị thơ THT. Khi đã gọi là tiến trình thì những giá trị đó không thể dừng lại mà phải chuyển động để phong cách biểu hiện không rơi vào thói quen sáo mòn về nhịp điệu và ngôn ngữ.
 
Về Giải Thơ, Trước hết, chúng ta nghe lời phát biểu của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, thay mặt cho ban tuyển chọn:

“Nếu căn cứ vào Ngôn ngữ thơ Tân Hình Thức, thì một số trong những bài thơ dự thi dường như chưa đạt, tôi muốn nói thêm là không riêng gì những tác giả dự thi, mà những bài thơ Tân hình thức của một số tác giả không dự thi cũng chưa đạt được những đặc điểm của loại thơ này. Riêng tôi với chỉ trên dưới 20 bài thơ THT, vẫn còn là những bước chập chững, tìm tòi và thể nghiệm, cũng như trăn trở với nhiều câu hỏi, mỗi khi đọc và nhất là khi viết một bài thơ THT.

Về ngôn ngữ thơ THT, tôi rất thích khi thơ hóa được ngôn ngữ đời thường. Theo ý tôi là làm cách nào xử dụng những câu nói thường nhật vào bài thơ để đọc lên nghe ra Thơ. Tôi đặc biệt chú trọng đến cảm xúc này khi tôi đọc hay làm thơ THT, và càng thấy rõ hơn, để đạt được điều này thì người viết phải kinh nghiệm được điều tiếp theo là Nhịp điệu của thơ THT với kỹ thuật lập lại. Tôi đã có kinh nghiệm với không ít số lượng về thơ vần điệu, không nói đến hay dở, tôi chỉ muốn nói là khi mình viết thơ lục bát, ngũ ngôn… thì dẫu sao cũng có vần, điệu để mình lọt được vào khung của nó dễ dàng, và những bài thơ có giai điệu du dương tương tự nhau. Còn với thơ THT thì tôi cảm thấy như mỗi bài nó định đọat cho mình một điệu riêng, không bài nào giống bài nào, ngay của chính một tác giả, bởi vì xử dụng ngôn ngữ đời thường và kỹ thuật lập lại thì hòan tòan tùy thuộc vào tài năng và cả “cá tính” của người viết. Cũng chính vì vậy mà đã có nhận xét cho là thơ THT chỉ là văn xuôi đem ra ngắt đọan, vắt dòng - tôi không phủ nhận là đa số những bài thơ THT trong lúc này chưa có được nhịp điệu tiết tấu để có thể chinh phục được người đọc. Nhưng nói như vậy thì dường như chưa có nhiều kinh nghiệm lặn lội làm thơ THT, và như vậy thì bài văn xuôi đếm chữ đó chỉ có nhịp nói bình thường, không đủ để gọi đó là một bài thơ THT.

Về Tính Truyện thì với những bài thơ chỉ nói đến một hình ảnh, cảm xúc tức thời từ một sự việc nào đó, với ngôn ngữ của THT thì nó có là một bài thơ THT không, vì không mang “tính truyện”? Theo sự chủ quan của tôi thì Chất ThơNội Dung cùng Nhịp Điệu riêng của thơ THT định đọat số phận của bài thơ. Cũng từ những ý nghĩ trên mà tôi chọn ra hai bài của tác giả Biển Bắc: Ánh Nhìn / Khỏang KhôngNơi Bến Ga.”

Chúng tôi xin trích thêm một đoạn ngắn đề cập tới vấn đề kỹ thuật trong bài viết: “Câu Chuyện Không Vần, Kể Lại” như sau:

“… Nếu thể thơ không vần với kỹ thuật vắt dòng, chỉ là hình thức, không phải nội dung, là phương tiện nối kết với mọi thế hệ, thì ngôn ngữ đời thường và tính truyện lại là những yếu tố hoàn toàn khác hẳn thơ vần điệu và tự do. Ngôn ngữ đời thường là những câu nói của những người bình thường, dung dị, trực tiếp. Khác với thơ vần và tự do là loại ngôn ngữ bóng bảy, trừu tượng hay khó hiểu. Ngay như ca dao, tuy nội dung và ngôn ngữ bình thường nói về những sinh hoạt đồng ruộng, nhưng bằng những câu ru điệu hát. Trong đời sống không ai ru hay hát khi giao tiếp với nhau. Những nhà thơ tân hình thức cho rằng mọi câu nói và cách nói trong đời sống thường nhật thuộc về ngôn ngữ thơ tân hình thức.

Nhưng trong đời sống có rất nhiều thành phần xã hội, từ lớp cùng đinh tới những tầng lớp cao hơn, từ loại người đầu đường xó chợ, băng nhóm ngoài lề xã hội tới những thành phần học thức, ngành nghề, sinh viên học sinh... Mỗi hạng người có cách nói cách nghĩ, cách giao tiếp, và vì thế có một loại ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ thơ tân hình thức bao gồm tất cả. Như vậy thì chưa ai chạm tới được ngôn ngữ đời thường này, nếu có thì cũng không đáng nói. Vì vậy mà thơ tân hình thức chưa có vóc dáng đặc biệt và phong cách lớn lao của nó.

Ngôn ngữ đời thường kết hợp với tính truyện là hai yếu tố chính trong thơ. Nếu không có tính truyện mà chỉ là những cảm xúc nhất thời thì cũng chưa đúng thơ tân hình thức. Tính truyện không hẳn là một câu truyện kể, mà có thể là tính liên tục của ngôn ngữ và ý tưởng, làm bật lên tư tưởng bài thơ. Truyện kể có thể là truyện dài, truyện ngắn hay truyện rất ngắn. Nhưng sao phải là truyện kể mà không là gì khác. Trong thời đại truyền thông, với tốc độ ngốn tin khủng khiếp của phương tiện truyền hình và internet, gần như mọi truyện kể đều biến thành những bản tin. Khi truyện kể bị giản lược tối đa, biến thành những bản tin, không còn tình tiết, bố cục, cảm xúc của một câu truyện, hết bản tin này đến bản tin khác, đến độ người đọc, người xem luôn luôn bị cuốn vào cơn lốc, để rồi chính mình cũng biến thành một phần của bản tin. Truyện kể dần dần mất đi, bị quên lãng chẳng khác nào thơ đã từng bị vùi dập vì cơn lốc làm mới suốt thời hiện đại. Hồi phục lại thơ cũng có nghĩa là hồi phục lại truyện kể (cũng đã từng mất đi trong thời hiện đại), bởi truyện kể hiện thân, chính là những mảnh đời thực tại. Hơn nữa, từ xa xưa, tính truyện cũng đã là một phần của tính thơ.

Yếu tố thứ ba, quan trọng đặc biệt cho thơ, nhất là thơ Việt, là nhịp điệu (ryhtm). Thơ vần điệu gọi nhạc tính, còn trong thơ tự do, nhịp điệu rất sơ sài, chỉ là những nhịp nói hoặc  nhịp âm của chính ngôn ngữ. Với thơ Tân hình thức, nếu là nhưng câu nói hay cách nói bình thường thì đó chỉ là những câu đối thoại hay kể lể của văn xuôi. Khi thơ tư do tiếng Anh muốn thay thế nhạc tính trong thơ truyền thống, họ sử dụng nhiều phương cách, một trong phương cách đó là lập lại câu chữ để thay thế công dụng của thể luật. Thể luật thơ tiếng Anh có lợi thế là biến ngôn ngữ đời thường thành nhịp điệu và ngôn ngữ thơ, nên thơ không bị rơi vào văn xuôi. Thơ Việt vì sự sắp xếp hài hòa của bằng trắc nên giống như thơ tự do tiếng Anh (thoát ra ngoài thể luật) hay bị lạm dụng, ngắt đoạn văn xuôi (chopped up) xuống dòng để coi giống như thơ. Vì kỹ thuật dòng gãy (line break) trong thơ tự do (cũng tương tự như vắt dòng trong thơ không vần) là một hình thức để phân biệt với văn xuôi.

Đối với thơ không vần tiếng Việt, kỹ thuật lập lại câu chữ có nhiều lợi thế, vì khi mang đời sống vào thơ, mà nhịp điệu đời thường là nhịp điệu của văn xuôi, nên khi dùng kỹ thuật này chúng ta được cả hai việc, đưa vào thơ một yếu tố mới, nhịp điệu, tạo thành thể luật thơ không vần Việt, đồng thời biến văn xuôi thành thơ và ngôn ngữ đời thường thành ngôn ngữ thơ, công dụng chẳng khác nào âm luật vọng cổ hay thể luật trong thơ tiếng Anh. Kỹ thuật lập lại không hẳn là duy nhất để  tạo nhịp điệu, nhưng vì chúng ta chưa tìm ra được một kỹ thuật nào khác. Một bài thơ không có nhịp điệu, không phải là thơ THT. Ngay nhà thơ Steele cũng cho rằng thơ thế kỷ 21 phải là kết hợp giữa thể luật và nhịp điệu. Với thơ Việt là sự kết hợp sự hài hoà bằng trắc và nhịp điệu.”

*

Với những gợi ý trên, chúng ta có thể rút ra vài tiêu chuẩn khởi đầu như sau: Bài thơ phải có nghệ thuật (kết hợp các yếu tố thơ) và tạo được cảm xúc nơi người đọc. Một bài thơ đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật nhưng không làm rung động người đọc là một bài thơ thất bại. Đó là, phải có “Chất Thơ, Nội DungNhịp Điệu riêng của thơ THT” theo nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

Bằng vào những lý do trên chúng tôi chọn thơ Biển Bắc trong kỳ này, bởi ngôn ngữ anh sử dụng đúng thực là ngôn ngữ đời thường. Phong cách và ý tưởng diễn đạt liên tục, khác với tính đứt đoạn của thơ vần điệu và tự do. Thơ Biển Bắc, có bài là 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ và 8 chữ. Một đặc điểm nữa là những bài thơ của giải thơ kỳ này hoàn toàn không giống với kỳ trước về nội dung, ngôn ngữ và nhịp điệu. Sự khác biệt rõ nét giữa thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Độ và nhà thơ Biển Bắc là một bằng chứng.

Giải thơ vì thế nhấn mạnh tới “tiến trình tìm kiếm giá trị” thơ THT. Mỗi giải thơ có giá trị riêng, và là giá trị ngay bây giờ, không phải giá trị của hôm qua hay ngày mai. Mỗi nhà thơ THT phải luôn luôn tìm kiếm phong cách diễn đạt mới, nếu muốn còn là một nhà thơ THT. Thơ tân hình thức là một thể loại thơ khó gấp bội thơ vần điệu và tự do, dễ làm khó hay, và là một thách đố với tài năng và những tâm hồn trẻ trung, thích phiêu lưu, bởi thơ vốn dĩ đã là một cuộc phiêu lưu vô cùng tận. Điều đó có thể giải thích tại sao dòng thơ này chưa đạt về chất lượng, và những nhà thơ (đã dừng lại hay vẫn tiếp tục) cũng không đi xa hơn những bước khởi đầu. Chúng tôi thật sự mong muốn giải thơ cứ mỗi hai tháng xuất hiện đều đặn, nhưng đã không như dự kiến vì rất khó chọn được người để trao giải cho đúng kỳ hạn. Chúng tôi cũng mong quí bạn gửi thơ dự thi xin theo đúng những tiêu chuẩn về kỹ thuật và cách chọn của ban tuyển chọn để dễ dàng hơn trong việc xét duyệt. Xin quí bạn cũng tự đánh giá trước khi gửi dự thi vì giải thơ phải giữ được giá trị ban đầu của nó nên sự tuyển chọn cũng không thể dễ dãi như khi đăng thơ trên các diễn đàn. Một lần nữa chúng tôi gửi lời chúc mừng nhà thơ Biển Bắc và mong rằng anh sẽ tiếp tục cống hiến cho thơ Việt những bài thơ THT giá trị và sinh động.

Trân trọng.

 

 

 

 

Last modified on 06/11/2007 6:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC