NHẬN ĐỊNH VỀ GIẢI THƠ KỲ 3 – 2008

 

 
 


 

 

 

Nhà thơ Gyảng Anh Iên đến với thơ tân hình thức lúc anh mới 20 tuổi, là người trẻ nhất vào năm 2004, và cũng là người nắm bắt tinh thần thơ tân hình thức đúng nhất. Một năm sau, anh ngưng lại, tưởng như một người bỏ cuộc. Điều đó cũng tự nhiên với diễn đàn này, vì hầu hết những người làm thơ tân hình thức, trước đó đều làm thơ vần hay thơ tự do, và khi không thể đi xa hơn bước khởi đầu thì họ quay về với dòng thơ chính của họ. Một số nấn ná, cùng một lúc làm cả thơ tự do lẫn thơ tân hình thức, đến một lúc nào rồi cũng bỏ cuộc, chẳng đi đến đâu, vì làm như thế không khác nào tự làm hỏng tay nghề của mình. Một số khác ngưng hẳn, chờ tìm cách vượt qua những bế tắc và trăn trở, qua năm tháng và tuổi tác, cũng không còn đủ thời gian và năng lực để tiếp tục trở lại. Cứ như thế, thể thơ tân hình thức vẫn cứ như một đỉnh núi chờ người chinh phục, tới cũng nhiều và bỏ đi cũng không ít. Trước khi tìm hiểu lý do tại sao, chúng ta trở về với thơ Gyảng Anh Iên.

Điểm rõ nét nơi thơ Gỷang Anh Iên là những mẫu chuyện đơn giản, ý tưởng tinh tế được diễn đạt bằng một ngôn ngữ bình dị thường ngày, nhịp điệu nhập thành rung động, nhẹ như một thoáng mây. Bài thơ “Hỏi” là câu chuyện về 2 người đàn bà ngồi đan lưới ngoài bãi biển, trên không có chiếc máy bay đang bay, hỏi nhau về cái gọi là định mệnh mà không biết một cơn sóng thần đang âm thầm lao tới. Hai người đàn bà bị mắc kẹt giữa hai tốc độ, của con người và của thiên nhiên. Suy nghĩ về định mệnh chưa xong thì định mệnh đã tới.

“Viết Cho Những Nỗi Buồn Viễn Cũ”, “Ngoái Đầu Là  Đêm”, “Gần Xa Và”… là những bài thơ hay, có thể đọc đi đọc lại.

Với trên 20 bài thơ của năm đầu tiên này, anh đã làm nên cái rất riêng của mình, nhưng cũng không thể cứ như thế mãi, nên anh đã ngưng lại. Mặc dù người đọc như tiếc cho anh vì vẫn muốn đọc tiếp. Hai năm sau anh trở lại, gửi thêm 8 bài cho giải thơ tân hình thức. Những bài thơ có chữ “Vô”: “Vô Thanh”, “Vô Lối”, “Vô Sắc”, “Vô Ngôn”, “Vô Cảm” là những bài thơ hay. Bài thơ “Vô Sắc” như một bức tranh vẽ phác hoạt cảnh mờ nhạt của những người ăn mày trong không khí chập choạng của thành phố…

Sự trở lại của anh lần này làm bật lên tính thuần nhất của dòng thơ tân hình thức, xác nhận vị trí của mình, đồng thời xác định vai trò của những nhà thơ trẻ nhất ở Việt nam hiện nay, như Biển Bắc, Nguyễn Tất Độ, Thiền Đăng… Nhưng có lẽ đặc biệt hơn cả là đặt câu hỏi cho một khởi điểm khác, làm sao để không còn tình trạng bỏ cuộc như đã phân tích ở trên.

Dĩ nhiên một người bỏ vốn đầu tư và học hỏi  rất ít thì không thể đòi hỏi một kết quả khả quan. Đó là chưa kể tài năng, sự kiên trì, nhạy bén và may mắn…

Nhà  thơ  Nguyễn Thị  Khánh Minh từng đặt câu hỏi, “Về Tính Truyện thì với những bài thơ chỉ nói đến một hình ảnh, cảm xúc tức thời từ một sự việc nào đó, với ngôn ngữ của tân hình thức thì nó có là một bài thơ tân hình thức không, vì không mang tính truyện?”

Đúng là lúc đầu, người làm thơ chỉ ghi lại “cảm xúc tức thời từ một sự việc nào đó với ngôn ngữ tân hình thức”, còn tính truyện và nhịp điệu là hai yếu tố chính thì mới chỉ ở mức đơn sơ, thậm chí chưa đồng bộ. Một bài thơ hay là một bài thơ mọi yếu tố chính được nhà thơ điều hợp như một dàn nhạc hợp xướng, lôi cuốn người đọc. Chỉ với một yếu tố mất cân bằng là đủ làm bài thơ thất bại. Tình truyện đã có nhưng phải được chuyên chở bằng nhịp điệu thì mới thành thơ. Truyện Kiều chẳng hạn, câu truyện gian truân của Kiều được Nguyễn Du chuyên chở bằng nhịp điệu lục bát và ngôn ngữ óng chuốt. Với thơ tân hình thức, một câu truyện thường ngày được chuyên chở bằng ngôn ngữ đời thường, còn nhịp điệu, nghệ thuật ngôn từ và cú pháp tùy thuộc tài năng của người làm thơ. Thơ là một thể loại nghệ thuật nên trước tiên phải có nghệ thuật, những thứ khác đến sau. Một nghệ thuật lớn cấn một nội dung lớn, và ngược lại.

Bước kế tiếp dĩ nhiên là đẩy tính truyện và nhịp điệu tới một mức phức tạp hơn. Đó là chưa kể khả năng tiếp nhận yếu tố của những bộ môn khác như tuồng, kịch, cải lương, điện ảnh… Nhưng muốn tiếp thu các yếu tố của các bộ môn khác, phải tìm hiểu và học hỏi vấn đề một cách cặn kẽ. Làm sao chúng ta am hiểu có căn bản về tuồng, kịch, cải lương, điện ảnh… trong khi ngay chính những diễn viên, đạo diễn, soạn giả tuồng tích phải tiêu phí cả đời trong nghề của họ.   

Trong phạm vi của thơ  và  truyện, nhiều điều chúng ta cũng vẫn chưa thấu đáo, và thực hành đến nơi đến chốn, nói chi đến những bộ môn khác. Nhịp điệu, dĩ nhiên tùy thuộc diễn biến của tình tiết câu truyện và tài năng biến hóa của tác giả. Còn lại, đâu là những yếu tố của truyện kể? Trong chúng ta có người đã từng viết truyện. Nhưng chắc chắn, truyện kể trong truyện không phải truyện kể trong thơ vì khác biệt bởi cách diễn đạt. Đã đến lúc người làm thơ phải từ bỏ cái tôi chủ quan, để thể hiện tâm tình của mọi con người, mọi sự kiện chung quanh một cách khách quan, thì mới nói đến tính truyện được.

Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21, ý nghĩa của sự trở lại không phải là trước kia chúng ta làm thơ vần điệu và tự do bây giờ chúng ta trở về làm lại thơ vần điệu hay tư do. Mà  tìm về những tác phẩm kể từ thời hiện đại trở về trước, như những phương tiện gợi ý để định nghĩa lại những yếu tố trong dòng thơ mới, tính truyện chẳng hạn.

Thơ  là  sự bắt chước, và bắt chước là một nghệ thuật lớn, theo Aristotle, trong tác phẩm “Thi Pháp” (Poetics) viết vào năm 350 trước Công nguyên. Điều này cũng không ngạc nhiên vì những tác phẩm lớn của Trung hoa đã được những người kể truyện chuyên nghịệp kể đi kể lại, từ đời này sang đời khác mới vẽ nên những cảnh đời, những biến cố, những tình huống, và nhân vật như thật… Làm sao đưa nhịp điệu tự nhiên vào thơ, tiếng sóng gió núi đồi, sinh vật, thực vật, bão tố, những sinh hoạt đường phố, chợ búa…

Aristotle cho rằng thơ được chia thành 3 loại: Anh hùng ca, bi kịch và hài kịch. Và trung gian của bi kịch là kịch bản chứ không phải truyện kể vì bi kịch “trưng bày” (shows) hơn là “kể lại” (tells). Tác phẩm “Poetics” chỉ còn lại phần Bi kịch, phần hài kịch đã mất. Bi kịch bao gồm 6 phần: Plot (cốt truyện), Characters (nhân vật), Diction (cách diễn đạt), Thought (tư tưởng), Spectacle (quang cảnh), Melody (bài hát hay nhạc hợp xướng).

Plot (cốt truyện) là cấu trúc của vở kịch, cách sắp xếp để làm sao những biến cố xảy ra hiện hữu trước khán giả. Hành động của nhân vật chính tạo nên chuỗi nhân quả, từ lầm lỡ dẫn đến thảm hại, gây cảm giác sợ hãi hay thương xót nơi khán giả. Phong cách diễn đạt là yếu tố thứ ba, tùy thuộc vào cốt truyện, nhân vật và cách kết thúc của bi kịch. Tư tưởng là chủ đề vở kịch. Bài hát hay nhạc nền, đóng góp vào sự nối kết những biến cố trong cốt truyện. Và sau hết, quang cảnh là sự dàn dựng trên sân khấu, nhưng nhà thơ nên dựa vào cấu trúc tự thân của vở kích thì hơn.

Trong 6 phần, cốt truyện quan trọng nhất, gồm tiền đề, thân đề, kết đề. Tiền đề bắt đầu chuỗi nhân quả. Thân đề, từ những biến cố đầu tiên, tự nó dẫn tới những biến cố theo sau. Kết đề, từ những yếu tố trước đó nhưng không dẫn tới những biến cố nào khác ngoài phạm vi vở kịch, giải quyết những vấn đề được tạo ra từ biến cố đầu tiên. Aristotle gọi chuỗi nhân quả là diễn tiến dẫn từ biến cố đầu tiên tới đỉnh cao phức tạp, rồi từ đó dần dần gỡ rối vấn đề ở phần kết.

Cốt truyện nối kết những hành động với nhau, mỗi hành động dẫn đến hành động kế tiếp không thể tránh được, nhưng không có sự tình cờ, vô lý chen vào.

Cốt truyện không nên quá vắn tắt, càng nhiều biến cố đan kết chặt chẽ với nhau, ý nghĩa và tính phổ quát cao, càng tạo cảm xúc và giàu tính nghệ thuật cho kịch bản,

Cốt truyện có thể đơn giản hay phức tạp, nhưng phức tạp thì tốt hơn. Cốt truyện đơn giản chỉ thay đổi cơ may (tai biến). Phức tạp bao gồm sự “đảo ngược dự tính” (peripeteia) và “nhận thức” (anagnorisis). Aristotle giải thích, sự “đảo ngược dự tính” khi nhân vật chính gây ra những hiệu quả nghịch lại với dự tính ban đầu, trong khi “nhận thức” là sự thay đổi từ sự thiếu hiểu biết tới hiểu biết. Ông cho rằng cốt truyện hay, kết hợp hai yếu tố trên như một phần của chuỗi nhân quả.

“Poetics” có thể là một tác phẩm gợi ý chính cho những nhà thơ tân hình thức Việt để phát triển loại thơ này. Chúng tôi nói “gợi ý” vì mỗi thời đại có những vấn đề và đường hướng khác nhau. Thơ tân hình thức Việt quan tâm tới cuộc sống đời thường, nhưng cuộc sống thì đầy phức tạp và bất định, không lúc nào giống lúc nào, vậy thì làm sao chúng ta lại chỉ dừng lại nơi “những cảm xúc nhất thời” mà không thể đi xa hơn. Chúng ta cần đọc đi đọc lại tác phẩm “Poetics”, từ từ nhập tâm (qua bản tiếng Anh vì khi đọc bằng một ngôn ngữ khác sẽ làm chúng ta chú tâm hơn), phát hiện những yếu tố thích hợp cho nhu cầu sáng tác. Và qua từng thế hệ, nếu có được những tác phẩm giá trị, chúng ta có thể rút tỉa ra những nguyên tắc để làm thành một tác phẩm “Thi pháp” riêng. Bởi ngay cả Aristotle cũng rút ra những yếu tố thi pháp từ những tác phẩm lớn thời cổ đại như IliadOdyssey của Homer và  Oedipus the King của Sophocles. Như vậy, chính sáng tác tạo ra lý thuyết chứ không phải lý thuyết tạo ra sáng tác.  Và bằng tính kiên trì và lòng khiêm tốn, biết đâu chúng ta chẳng biến giấc mơ thành sự thực.

Từ một giải thơ dẫn đến vấn đề tìm kiếm cơ sở lý thuyết cho thơ, quả là điều kỳ diệu. Nhưng hẳn không phải ngẫu nhiên, vì trước đó đã có một số bài thơ hay, một tác giả bỏ đi rồi trở lại. Một số bài thơ xuất hiện quay tìm lại những bài thơ trước đó, tiến trình tạo ra câu hỏi và đòi trả lời… Thơ hay không cần diễn giải nhiều lời mà tự nó có sức thu hút, đến trực tiếp với người đọc. Thơ Gỷang Anh Iên ở trong trường hợp này, và hơn thế nữa đã tạo nên một bước ngoặc mới vì thơ anh thuần nhất, không bị lai với những thể loại khác như vần điệu hay tự do về ngôn ngữ và phong cách. Một số bài thơ của Anh có thể coi là những thử nghiệm căn bản của thơ tân hình thức Việt về tính truyện.

Cũng cần nhắc lại, tính truyện nơi những bài thơ ban đầu của những nhà thơ tân hình thức Việt mới chỉ là tự truyện mang tính chủ quan của người viết chứ chưa phải là truyện kể mang tính khách quan về nhân vật thứ ba, thể hiện nguyên vẹn con người, biến cố như thật trước mắt, để có được tính phổ quát và nghệ thuật cao cấp. Nếu một tác phẩm thơ đạt được tới giá trị như vậy, chúng ta có cơ may lấy thêm được người đọc của văn xuôi. Thơ lúc đó mới xứng đáng là mũi nhọn của một nền văn học. Bởi một điều, từ xưa đến nay, những tác phẩm lớn đều có liên hệ tới tính truyện, hay nói khác, tính truyện là yếu tố khởi đầu cho một tác phẩm có tầm vóc. Thêm nữa, khái niệm “bắt chước” có nghĩa, đừng diễn giải thực tại, hãy để thực tại hiển hiện như là thực tại. Đây là một thách đố lớn đối với những nhà thơ tân hình thức. Tuy nhiên những nhà thơ mới đến, hãy bước những bước đầu tiên, cho đến khi quen thuộc và cảm thấy hợp với dòng thơ này.

Giải thơ tân hình thức đến nay đã là kỳ thứ 3, và là một giải thơ đều đặn và giá trị.  Những nhà thơ được giải đều là những tác giả trẻ, trên 20, đại diện cho thế hệ bắt đầu một giai đoạn thơ. Chúng tôi trân trọng thân chúc các bạn chân cứng đá mềm, và đưa thơ Việt đến một chân trời mới.

 

Chú thích
Bạn đọc có thể tìm đọc tác phẩm “Poetics” của Aristotle tại địa chỉ sau đây:

http://www.leeds.ac.uk/classics/resources/poetics/poettran.htm

 

 

 

Last modified on 02/07/2008 6:00 PM © 2004 2008 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC